Labels (CÁC THỂ LOẠI):

Hiển thị các bài đăng có nhãn LUẬT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn LUẬT. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 18 tháng 3, 2024

“PHÓNG SỰ ĐIỀU TRA”―“TÍNH CHIẾN ĐẤU”: XƯƠNG SỐNG CỦA MỘT TỜ BÁO



(Xem bài báo: Vì sao các báo ngày càng ít phóng sự điều tra? tại: https://vov.vn/xa-hoi/vi-sao-cac-bao-ngay-cang-it-phong-su-dieu-tra-post1083116.vov.)


Là một người rất quan tâm đến sự phát triển của Báo chí Việt Nam―mà theo tôi là “quyền lực thứ tư” sau lập pháp, hành pháp, và tư pháp―sau một khoảng thời gian dài quan sát khoảng 17 năm qua, tôi nhận thấy Báo chí ngày càng mất đi “tính chiến đấu”―xin lỗi các bạn bè là Nhà báo và những người hoạt động trong lĩnh vực Báo chí, nếu tôi có nói gì không phải, đây chỉ là nhận định cá nhân của riêng tôi căn cứ trên thực tế mà tôi đã và đang quan sát, đút kết. Các loạt bài Phóng sự điều tra không còn nhiều, hấp dẫn, và gay cấn như trước nữa. Thông qua nhiều bạn bè là các Nhà báo, cựu Nhà báo, tôi cũng biết được có rất nhiều khó khăn đối với các Nhà báo trong việc bảo đảm điều kiện hành nghề, tính tự chủ, và minh bạch khi hành nghề.

 

Trên thế giới, đứng sau các bê bối chính trị lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, điển hình như Vụ Bê bối Watergate (Watergate scandal) khiến Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon (từ 1969 - 1974) từ chức, không thể thiếu được sự đóng góp và công sức của các Tòa báo lớn và Nhà báo lớn hàng đầu Hoa Kỳ. Có 48 quan chức hàng đầu của Chính quyền Nixon bị kết tội (in total 48 officials were convicted of wrongdoing) với các tội danh như: cản trở công lý, lạm dụng quyền lực, và cản trở Quốc hội. Sự trừng phạt này không dừng lại ở đó, năm 1976, Nixon bị xóa tên khỏi Đoàn Luật sư New York (disbarred) với cáo buộc cản trở công lý liên quan đến Vụ Bê bối Watergate này. Do vậy, vai trò và chức năng của Báo chí Hoa Kỳ đã được thể hiện rất rõ ràng trong vụ việc này. Nếu bạn tinh ý thì cũng có thể nhận ra, Báo chí đang đóng vai trò rất lớn trong việc “định hướng dư luận” ảnh hưởng rất lớn đến kết quả cuối cùng trong chiến dịch tranh cử Tổng thống Hoa Kỳ năm 2024 giữa hai (02) ứng cử viên sáng giá nhất vào thời điểm này, đại diện cho hai (02) Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa là Đương kim Tổng thống Joe Biden và Cựu Tổng thống Donald Trump.

 

Quay trở lại Việt Nam, sự giảm sút của các loạt bài Phóng sự điều tra―và các dạng tin bài chất lượng và có chiều sâu khác―là một phản ánh rõ ràng về thách thức mà Báo chí hiện đại đang đối mặt. Tờ báo không chỉ là nguồn cung cấp tin tức mà còn là cánh cửa mở ra sự thật và công lý. Tuy nhiên, với áp lực thời gian, sự cạnh tranh về mặt công nghệ và tài nguyên, việc sản xuất các loạt bài Phóng sự điều tra―và các dạng tin bài chất lượng và có chiều sâu khác―ngày càng trở nên khó khăn hơn và không còn hiệu quả về mặt kinh tế. Điều này đặt ra một câu hỏi lớn về tính chiến đấu của các Tờ báo và Tòa báo. Quan điểm cá nhân của tôi, một Tờ báo không có “tính chiến đấu” thì không khác gì một tờ tạp chí. Có lẽ, thời hoàng kim của Phóng sự điều tra của Báo chí đã qua. Điều đó, cũng đồng nghĩa, tính chiến đấu của Báo chí đã bị giảm sút.


Trong bối cảnh hiện nay, xu hướng chung của Báo chí thế giới là điều chỉnh và tái cân bằng giữa việc cung cấp tin tức hàng ngày và nỗ lực tiếp tục thực hiện sứ mệnh của “quyền lực thứ tư” đề cao “tính chiến đấu” và “phản biện xã hội”―lý tưởng mà tôi cũng đang theo đuổi thông qua các bài viết và công việc hành nghề Luật sư của mình. Các Tờ báo đang phải tìm cách tổ chức và phân bổ tài nguyên một cách thông minh hơn để vẫn bảo đảm chất lượng tin bài đồng thời cần có chiều sâu. Có lẽ, một phần, ngày nay, sự tin tưởng và hỗ trợ từ độc giả và cộng đồng đã không còn giống như xưa, trước sự thay đổi về công nghệ, và các trang mạng xã hội như Facebook, đã làm lung lay tận gốc rễ sự thống trị của Báo chí là nguồn cung cấp tin tức hàng đầu và đáng tin cậy như nhiều năm trước đây.

 

Tôi vẫn sẽ tiếp tục neo những câu hỏi liên quan đến Báo chí trong đầu mình, và sẽ tiếp tục quan sát thêm khoảng 15 - 20 năm nữa. Để xem, những câu hỏi ngày hôm nay của tôi liên quan đến tương lai của Báo chí, sẽ được tôi tự giải đáp như thế nào.

 

Ngày 18/03/2024

Hồ Quốc Nam

http://hoquocnam.blogspot.com

Thứ Sáu, 12 tháng 1, 2024

VỤ ÁN ÔNG TRẦN QUÍ THANH – TÂN HIỆP PHÁT: CÓ “HÌNH SỰ HÓA QUAN HỆ KINH TẾ”?


Chủ tịch Tập đoàn Tân Hiệp Phát Trần Quí Thanh - Ảnh: Tân Hiệp Pháp

 

I.       Dẫn nhập

 

1.      Hôm nay có một chút thời gian, tôi tìm hiểu vụ án Ông Trần Quí Thanh – Chủ tịch Tập đoàn Tân Hiệp Phát qua bài báo của Báo Tuổi Trẻ: “Đề nghị truy tố ba cha con chủ tịch Tập đoàn Tân Hiệp Phát Trần Quí Thanh do chiếm đoạt 767 tỉ”. Thông tin được công khai trên mạng Internet liên quan đến hành vi cụ thể này cơ bản là giống nhau. Tôi lấy bài báo của Báo Tuổi Trẻ để dẫn chứng và phân tích theo quy định của pháp luật. Link bài báo của Báo Tuổi Trẻ: https://tuoitre.vn/de-nghi-truy-to-ba-cha-con-chu-tich-tap-doan-tan-hiep-phat-tran-qui-thanh-do-chiem-doat-767-ti-20231124115735033.htm. Nhận định của tôi luôn có thể có sai sót―và tôi luôn hoan hỉ vì còn sai sót thì mình còn có thể tiếp tục tiến bộ―nên có gì mong bạn đọc chỉ giáo thêm. Nếu có phê phán hoặc quan điểm khác biệt, những mong đừng quá nặng lời.

 

II.    Pháp luật hình sự: Thế nào là “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”?

 

2.      Trước tiên, cần hiểu quy định của pháp luật hình sự về thế nào là “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

 

3.      Về lý luận, “chiếm đoạt tài sản” là hành vi chuyển dịch, đoạt lấy, chiếm lấy tài sản của người khác trái pháp luật, để nắm giữ, quản lý, sử dụng, định đoạt (nhấn mạnh: “trái pháp luật”). Hành vi cố ý “chiếm đoạt tài sản” “trái pháp luật” của người khác với mục đích chuyển quyền sở hữu tài sản từ người khác sang mình hoặc sang người thứ ba có thể cấu thành tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” hoặc “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

 

4.      Để phân biệt “lừa đảo” và “lạm dụng” có thể dựa vào dấu hiệu: Nếu hành vi gian dối xảy ra trước khi có hành vi chiếm đoạt thì có thể được xem là “lừa đảo” (có yếu tố “dự mưu”). Nếu hành vi gian dối xảy ra sau khi có hành vi chiếm đoạt thì có thể xem là “lạm dụng” (Hán Việt: Sử dụng quá mức hoặc quá giới hạn đã được quy định) “tín nhiệm” (Hán Việt: sự tin tưởng). Cả “lừa đảo” và “lạm dụng” đều phải đáp ứng được điều kiện có “hành vi gian dối”. Và “hành vi gian dối” này, trong mọi trường hợp, không thể được xác lập theo hình thức của giao dịch dân sự được Bộ luật Dân sự (2015) thừa nhận. Tôi sẽ làm rõ vấn đề này ở các Đoạn tiếp theo.

 

III. Thông tin cơ sở

 

5.      Theo bài báo, hành vi của ông Thanh được mô tả như sau:

 

Kết quả điều tra xác định, lợi dụng quy định về cho vay, hợp đồng chuyển nhượng, chủ tịch Tập đoàn Tân Hiệp Phát cùng hai con gái Trần Uyên Phương và Trần Ngọc Bích đã cho một số người vay lấy lãi “dưới mức cấu thành tội phạm về cho vay lãi nặng”.

 

Khi cho vay, ông Thanh không làm hợp đồng vay tiền có cầm cố tài sản mà buộc các doanh nghiệp, cá nhân phải làm hợp đồng chuyển nhượng dự án, cổ phần trong dự án. Giá trị của các dự án, bất động sản trong hợp đồng có giá trị thấp hơn nhiều lần so với thực tế.

 

Cơ quan điều tra cáo buộc khi bên vay làm thủ tục chuyển nhượng tài sản cho bên Tân Hiệp Phát, ông Thanh chỉ đạo hai con gái làm thủ tục sang tên cho mình để nắm quyền kiểm soát, định đoạt tài sản.

 

Mặc dù bên vay đã thực hiện nghĩa vụ trả đầy đủ gốc và nợ lãi theo thỏa thuận nhưng ông Thanh vẫn dùng các thủ đoạn gian dối hoặc tạo ra các lý do để cố tình không trả lại tài sản và chiếm đoạt tài sản.

 

IV. Nhận định và phân tích

 

6.      Theo những thông tin như được mô tả trong bài báo, tôi có quan ngại về việc cấu thành tội phạm liên quan đến vụ án truy tố ba cha con Chủ tịch Tập đoàn Tân Hiệp Phát Trần Quí Thanh. Tôi cho rằng việc truy tố hình sự đối với ông Thanh có nhiều vấn đề chưa thuyết phục, cần phải làm rõ theo quy định của pháp luật hình sự hiện hành, có thể có dấu hiệu “hình sự hóa quan hệ kinh tế”.

 

7.      Theo mô tả trên, hành vi của ông Thanh thật ra không lạ đối với một số Luật sư tư vấn giao dịch M&A và Nhân viên ngân hàng đầu tư (Investment Banker). Hình thức này phổ biến trên thực tế khi các công ty tài chính thường sử dụng khi tài trợ vốn cho các doanh nghiệp có dự án đầu tư hoặc tài sản lớn. Một chuỗi các thỏa thuận dân sự có thể được xác lập để thực hiện mô hình tài trợ vốn này có thể kể đến như: (a) Hợp đồng vay; (b) Hợp đồng thế chấp; (c) Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần/dự án; và (d) Cam kết mua lại/bán lại cổ phần/dự án tại mục (c).

 

8.      Bản chất của mô hình này là một chuỗi các giao dịch dân sự được pháp luật thừa nhận. Trường hợp ông Thanh vi phạm Cam kết mua lại/bán lại cổ phần/dự án (nếu có) thì rõ ràng đây là tranh chấp dân sự. Trong đó, mỗi hành vi giữa ông Thanh và những người khác được cho là bị hại, thực chất là một giao dịch dân sự. Và chuỗi hành vi của ông Thanh, thực chất là một chuỗi các giao dịch dân sự trong tổng thể một cấu trúc giao dịch dân sự được pháp luật thừa nhận.

 

9.      Trong mọi trường hợp, không thể cho rằng hành vi vi phạm Cam kết mua lại/bán lại cổ phần/dự án (nếu có) có dấu hiệu của vi phạm pháp luật hình sự, bởi lẽ Cam kết mua lại/bán lại cổ phần/dự án là một giao dịch dân sự được pháp luật thừa nhận. Trường hợp có tranh chấp liên quan đến việc mua lại/bán lại cổ phần/dự án, đây thực chất là tranh chấp dân sự, cần căn cứ vào quy định tại Cam kết mua lại/bán lại cổ phần/dự án và các quy định của pháp luật dân sự để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên để giải quyết tranh chấp.

 

10.  Trên thị trường chứng khoán cũng có một hình thức tương tự gọi là REPO (tiếng Anh: Repurchase Agreement: A repurchase agreement, also known as a repo, RP, or sale and repurchase agreement, is a form of short-term borrowing ). Hợp đồng REPO hay còn gọi là Thỏa thuận mua lại là hợp đồng mua bán chứng khoán với cam kết của người bán sẽ mua lại chứng khoán đó từ người mua với một mức giá cụ thể vào một ngày cụ thể trong tương lai. Trường hợp người bán và/hoặc người mua vi phạm cam kết thì đây được xem là tranh chấp dân sự.

 

V.    Kết luận

 

11.  Từ những lý do và nội dung như được trình bày bên trên, liên quan đến một phần vụ án này―cha con ông Thanh còn bị truy tố về nhiều tội danh khác―tôi có quan ngại về việc truy tố cha con ông Trần Quí Thanh chưa được thuyết phục, cần làm rõ thêm có “hình sự hóa quan hệ kinh tế” đối với vụ án này hay không? Tôi có quan điểm cho rằng, đối với một cấu trúc giao dịch, có thể đánh giá cụ thể, chi tiết từng giao dịch dân sự cụ thể nhưng không được tách nó ra khỏi chuỗi giao dịch dân sự này khi xem xét về mặt tổng thể. Trường hợp cấu trúc giao dịch này được xác lập bằng một chuỗi các giao dịch dân sự thì nên và phải nhìn nhận tranh chấp liên quan đến cấu trúc giao dịch này là tranh chấp dân sự, tránh “hình sự hóa quan hệ kinh tế”.


Ngày 11/01/2024
Hồ Quốc Nam
http://hoquocnam.blogspot.com

Thứ Năm, 26 tháng 1, 2023

BÌNH LUẬN VỀ SAI LẦM TRONG VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TẠI QUYẾT ĐỊNH SỐ 28/2020/QĐKDTM-PT NGÀY 29/06/2020 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VỀ VIỆC YÊU CẦU CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM BẢN ÁN CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI

 

I. SỰ VIỆC

1. Ngày 29/06/2020, Tòa án nhân dân Cấp Cao tại Thành phố Hồ Chí Minh (“TANDCC TP.HCM”) ban hành Quyết định số 28/2020/QĐKDTM-PT về việc yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án của Tòa án nước ngoài (xem https://drive.google.com/file/d/10iuPpkmgBqgHZ9tTPLRB_Q9L_le7bAWj/view?usp=sharing) (“Quyết Định 28/2020/QĐKDTM-PT”). Nội dung vụ việc tại Quyết Định 28/2020/QĐKDTM-PT có thể được tóm tắt như dưới đây.
2. Ngày 04/04/2014, bà Oh—cá nhân có quốc tịch Hàn Quốc, là Nguyên Đơn—ký kết Hợp đồng chuyển nhượng 100% phần vốn góp tại Công ty TNHH P (“Công ty P”) (“Hợp Đồng Chuyển Nhượng Phần Vốn Góp”) cho Công ty TNHH S (“Công ty S”)—pháp nhân được thành lập theo pháp luật Việt Nam, là Bị Đơn—với giá chuyển nhượng 3.500.000 USD. Hai bên thỏa thuận cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp phát sinh là Tòa án Trung tâm Quận Seoul, Hàn Quốc.
3. Điểm D, Mục 3 của Hợp Đồng Chuyển Nhượng Phần Vốn Góp xác định bà Oh phải cung cấp giấy chứng nhận đầu tư, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để chứng minh bà Oh được quyền chuyển nhượng vốn điều lệ và các quyền liên quan đến quyền sử dụng đất, tòa nhà, và cơ sở vật chất cho Công ty S.
4. Căn cứ Hợp Đồng Chuyển Nhượng Phần Vốn Góp, bà Oh đã bàn giao toàn bộ nhà xưởng của Công ty P từ ngày 11/04/2014 cho Công ty S để quản lý và vận hành.
5. Theo Hợp Đồng Chuyển Nhượng Phần Vốn Góp, Công ty S có nghĩa vụ thanh toán cho bà Oh. Tuy nhiên, Công ty S đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Sau nhiều lần nhắc nhở nhưng không đạt kết quả, bà Oh tuyên bố chấm dứt Hợp Đồng Chuyển Nhượng Phần Vốn Góp, yêu cầu Công ty S trả lại nhà xưởng nhưng đến ngày 31/10/2014 Công ty S mới trả lại. Do vậy, bà Oh đã khởi kiện Công ty S tại Tòa án Hàn Quốc.
6. Tòa án Cấp Cao Seoul, Hàn Quốc—tòa án cấp phúc thẩm—tuyên buộc Công ty S trả bà Oh số tiền 400.000 USD và tiền lãi với mức lãi suất hàng năm là 6% kể từ ngày 24/09/2014 cho đến ngày 22/05/2015; và tiền lãi với mức lãi suất hàng năm là 20% kể từ ngày tiếp theo cho đến khi khoản tiền được thanh toán đầy đủ (“Bản Án Phúc Thẩm Tại Hàn Quốc”).
7. Căn cứ Phần thứ bảy của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 do Quốc Hội Việt Nam thông qua ngày 25/11/2015 (“BLTTDS 2015”), bà Oh đề nghị Tòa án Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam toàn bộ phán quyết có hiệu lực của Bản Án Phúc Thẩm Tại Hàn Quốc, buộc Công ty S phải thực hiện theo phán quyết.
8. TANDCC TP.HCM căn cứ quy định pháp luật Việt Nam tại Điều 469; và Điểm a, Khoản 1, Điều 470 của BLTTDS 2015 nhận định thẩm quyền chung và thẩm quyền riêng biệt đối với tranh chấp giữa bà Oh với Công ty S đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Việt Nam. Do đó, bà Oh yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam Bản Án Phúc Thẩm Tại Hàn Quốc là không có căn cứ nên quyết định không công nhận và cho thi hành tại Việt Nam đối với Bản Án Phúc Thẩm Tại Hàn Quốc.

II. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
9. Điểm a, Khoản 1, Điều 470 của BLTTDS 2015 quy định:
Điều 470. Thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam
1. Những vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt Nam:
a) Vụ án dân sự đó có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam.

III. BÌNH LUẬN QUYẾT ĐỊNH 28/2020/QĐKDTM-PT
10. Theo nhận định của tôi, nhận định của TANDCC TP.HCM tại nội dung của Quyết Định 28/2020/QĐKDTM-PT không đúng, bởi lẽ: (i) Hợp Đồng Chuyển Nhượng Phần Vốn Góp được thực hiện theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp; (ii) tranh chấp Hợp Đồng Chuyển Nhượng Phần Vốn Góp không phải là tranh chấp có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam; và (iii) nhận định của TANDCC TP.HCM không phù hợp với tinh thần và nhận thức pháp luật của Tòa án nhân dân Tối Cao (“TANDTC”) về tranh chấp liên quan đến bất động sản.
11. Thứ nhất, việc ký kết Hợp Đồng Chuyển Nhượng Phần Vốn Góp của bà Oh và Công ty S phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 do Quốc Hội thông qua ngày 29/11/2005, như được sửa đổi, bổ sung (“Luật Doanh nghiệp 2005”)—luật nội dung có hiệu lực vào thời điểm Hợp Đồng Chuyển Nhượng Phần Vốn Góp được ký kết. Tại Hợp Đồng Chuyển Nhượng Phần Vốn Góp, bà Oh đã thực hiện quyền của chủ sở hữu—chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp—đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do cá nhân làm chủ sở hữu (Điều 64.2(c) của Luật Doanh nghiệp 2005).
12. Thứ hai, bản chất của tranh chấp Hợp Đồng Chuyển Nhượng Phần Vốn Góp là tranh chấp dân sự có liên quan đến phần vốn góp—là một loại động sản—không phải là tranh chấp dân sự có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam. Pháp luật vào thời điểm Hợp Đồng Chuyển Nhượng Phần Vốn Góp được ký kết quy định phần vốn góp của bà Oh tại Công ty P là động sản, không phải là bất động sản (Điều 174 của Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 do Quốc Hội thông qua ngày 14/06/2005 (“BLDS 2005”). Đối với loại tranh chấp này, khi thụ lý và xét xử vụ án, cơ quan giải quyết tranh chấp chỉ cần xác định: (i) Công ty S có nghĩa vụ thanh toán cho bà Oh hay không?; và (ii) Trường hợp Công ty S có nghĩa vụ thanh toán cho bà Oh, thì giá trị thanh toán được xác định như thế nào. Cần lưu ý rằng, sau thời điểm bà Oh góp vốn vào Công ty P, bà Oh đã mất quyền sở hữu đối với tài sản được dùng để góp vốn và chỉ có quyền sở hữu đối với phần vốn góp bà Oh sở hữu tại Công ty P (Điều 4.4 và Điều 4.5 của Luật Doanh nghiệp 2005). Ngoài ra, pháp luật Việt Nam vào thời điểm Hợp Đồng Chuyển Nhượng Phần Vốn Góp được ký kết, gồm cả Luật Doanh nghiệp 2005, không có bất cứ quy định nào đề cập đến việc chuyển nhượng phần vốn góp theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục công chứng, chứng thực như đối với giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất (Điều 127 của Luật Đất đai số 13/2003/QH11 do Quốc Hội thông qua ngày 26/11/2003, như được sửa đổi, bổ sung). Như vậy, có thể thấy nhận định của TANDCC TP.HCM không đúng với quy định của pháp luật.
13. Thứ ba, pháp luật Việt Nam hiện hành có đề cập đến “tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất”—quyền sử dụng đất là một loại bất động sản được quy định tại Điều 107 của Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 do Quốc Hội thông qua ngày 24/11/2015 (“BLDS 2015”)—là các loại tranh chấp như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất,... (Điều 3.2 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn một số quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 192 BLTTDS 2015 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại (“Nghị Quyết Số 04/2017/NQ-HĐTP”)). Có thể thấy, tại Nghị Quyết Số 04/2017/NQ-HĐTP, TANDTC đã có quan điểm tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất là khi đối tượng tranh chấp liên quan “trực tiếp” đến quyền sử dụng đất. Cùng một cơ sở và nhận định của TANDTC như tại Nghị Quyết Số 04/2017/NQ-HĐTP, có thể thấy nhận định của TANDCC TP.HCM về việc tranh chấp Hợp Đồng Chuyển Nhượng Phần Vốn Góp giữa bà Oh và Công ty S là tranh chấp có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam là không phù hợp với tinh thần và nhận thức pháp luật của TANDTC về tranh chấp liên quan đến bất động sản.

IV. KIẾN NGHỊ
14. Theo nhận định của tôi, đối với những tranh chấp liên quan đến việc chuyển nhượng cổ phần và phần vốn góp theo quy định của pháp luật về doanh nghiêp, TANDTC cần có hướng dẫn theo hướng công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài. Về bản chất, đây là loại tranh chấp có liên quan đến quyền của chủ sở hữu đối với tài sản là động sản—cổ phần và phần vốn góp—được chuyển nhượng.


26/01/2023
Hồ Quốc Nam

Chủ Nhật, 11 tháng 12, 2022

TÔI PHẢN ĐỐI NHÀ BÁO THANH PHƯƠNG VI PHẠM NGHIÊM TRỌNG PHÁP LUẬT VÀ XÂM PHẠM NGHIÊM TRỌNG QUYỀN CỦA BỊ CÁO NGUYỄN HUỲNH TÚ TRINH

Nhà báo Thanh Phương có bài báo với tựa đề: “Nữ nhân viên Alibaba khai báo quanh co tại tòa”. Xem tại: https://vietnamnet.vn/nu-nhan-vien-dia-oc-alibaba-khai-bao-quanh-co-tai-toa-2089625.html?fbclid=IwAR0mvxWg3Rs0D6tC-HKrzfhynHpg8YBgGJCsdzQ55cIpIAFdNaIHBcIP8_M.  Đối với bài báo này, tôi phản đối Nhà báo Thanh Phương đã: (i) Vi phạm nghiêm trọng pháp luật; và (ii) Xâm phạm nghiêm trọng quyền của bị cáo Nguyễn Huỳnh Tú Trinh.

Bằng các nhận định mang nặng tính chủ quan và buộc tội bị cáo Nguyễn Huỳnh Tú Trinh như “khai báo quanh co tại tòa”, "quanh co chối tội", Nhà báo Thanh Phương đã vi phạm nghiêm trọng: (i) Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, như được sửa đổi, bổ sung (“BLTTHS 2015”); và (ii) Luật Báo chí năm 2016, như được sửa đổi, bổ sung (“Luật Báo chí 2016”).  Cụ thể:

1. Nhà báo Thanh Phương đã xâm phạm nghiêm trọng quyền tự bào chữa của bị cáo Nguyễn Huỳnh Tú Trinh trong vụ án hình sự (Điều 61.2(g) của BLTTHS 2015).  Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Huỳnh Tú Trinh còn có quyền khai báo theo hướng có lợi cho mình và/hoặc giữ quyền im lặng ("right to remain silent"); và không một ai có quyền buộc bị cáo Nguyễn Huỳnh Tú Trinh phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội (Điều 61.2(h) của BLTTHS 2015).  [Quyền im lặng của bị cáo Nguyễn Huỳnh Tú Trinh đã được pháp luật quy định và bảo vệ, đơn cử như tại Điều 309.3 của BLTTHS 2015: Trường hợp bị cáo Nguyễn Huỳnh Tú Trinh không trả lời các câu hỏi thì Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự tiếp tục hỏi những người khác và xem xét vật chứng, tài liệu có liên quan đến vụ án.  Hiện nay, việc giữ quyền im lặng không bị xem là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52.1 của Bộ luật Hình sự năm 2015, như được sửa đổi, bổ sung.];

2. Nhà báo Thanh Phương đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc suy đoán vô tội đối với bị cáo Nguyễn Huỳnh Tú Trinh trong vụ án hình sự khi cho rằng bị cáo Nguyễn Huỳnh Tú Trinh khai báo quanh co để chối tội tại tòa (Điều 13 của BLTTHS 2015).  Không những vậy, các nhận định bị cáo Nguyễn Huỳnh Tú Trinh “khai báo quanh co tại tòa”, "quanh co chối tội" của Nhà báo Thanh Phương còn vi phạm nguyên tắc xác định sự thật của vụ án: Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chứ không phải là của người bị buộc tội (Điều 15 của BLTTHS 2015); và

3. Ngoài ra, Nhà báo Thanh Phương còn vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm theo Luật Báo chí 2016 khi có hành vi “quy kết tội danh khi chưa có bản án của Tòa án” (Điều 9 của Luật Báo chí 2016).  Cần phải lưu ý rằng, bị cáo Nguyễn Huỳnh Tú Trinh vẫn là người không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do BLTTHS 2015 quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (Điều 13 của BLTTHS 2015).


Việc phản đối của tôi có thể không có nhiều có ý nghĩa khi Nhà báo Thanh Phương có thể không bao giờ đọc được bài viết này của tôi.  Nhưng tôi sẽ tiếp tục lên tiếng phản đối trên tinh thần xây dựng khi nào vẫn còn nhìn thấy những chuyện bất công.  Quan điểm cá nhân của tôi, điều tệ hại nhất trong xã hội không phải là tội ác không bị trừng trị, mà là chúng ta im lặng trước những bất công, và cho rằng hành vi đáng lẽ ra phải bị lên án đó không phải là tội ác. 


11/12/2022

Hồ Quốc Nam

http://hoquocnam.blogspot.com

Thứ Sáu, 25 tháng 11, 2022

BÌNH LUẬN NGHỊ QUYẾT CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TAND TỐI CAO HƯỚNG DẪN THỜI HIỆU KHỞI KIỆN HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

I. SỰ KIỆN
1. Điều 23.1(b) của Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 (“Nghị Quyết 03”) (Xem https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thu-tuc-To-tung/Nghi-quyet-03-2012-NQ-HDTP-huong-dan-Bo-luat-to-tung-dan-su-da-duoc-sua-doi-193786.aspx?fbclid=IwAR2G2OxNyu-ovnoswfkU_ibAyVuQev6HR8ac6oyYGaSlyrdhIb4Rmv8f9fI) của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối Cao (“HĐTP TANDTC”) hướng dẫn về thời hiệu khởi kiện hợp đồng vay tài sản như sau:
“Ngày 01-01-2008, A cho B vay 500 triệu đồng, thời hạn vay là 1 năm. Đến ngày 01-01-2009, B không trả tiền gốc và tiền lãi. Đến ngày 03-4-2011, A khởi kiện yêu cầu buộc B trả lại khoản tiền gốc và tiền lãi. Đối với yêu cầu thanh toán khoản tiền lãi thì Tòa án không giải quyết vì đã hết thời hiệu khởi kiện. Đối với yêu cầu thanh toán khoản tiền gốc thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện, Tòa án thụ lý giải quyết theo thủ tục chung.”
2. Theo hướng dẫn nêu trên của HĐTP TANDTC, đối với tranh chấp dân sự liên quan đến hợp đồng vay tài sản—do cả A và B đều là cá nhân nên đây là vụ án dân sự—trường hợp đã hết thời hiệu khởi kiện thì: (i) Đối với yêu cầu thanh toán khoản tiền lãi thì Tòa án không giải quyết vì đã hết thời hiệu khởi kiện; và (ii) Đối với yêu cầu thanh toán khoản tiền gốc thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện, Tòa án thụ lý giải quyết theo thủ tục chung.
3. Hướng dẫn nêu trên của HĐTP TANDTC đã được các Tòa án địa phương áp dụng trong thực tiễn xét xử. Ví dụ như tại Bản án phúc thẩm số 12/2021/DS/PT ngày 14/09/2021 của TAND Tỉnh Kon Tum về việc kiện đòi tàn sản (“Bản Án Phúc Thẩm 2021”) (Xem https://drive.google.com/file/d/10RGbDc39ka4WsQ-OtzdST1d7WvGk4UaZ/view?fbclid=IwAR16WMf5S8cbHX2XArY17AE87ov2Wh_ILNvZaFybkYTlHE5O7n3FFoDmLck). Tại Bản Án Phúc Thẩm 2021, TAND Tỉnh Kon Tum đã có quan điểm áp dụng Điều 23.1(b) của Nghị Quyết 03 để không chấp nhận yêu cầu tính lãi đến thời điểm xét xử sơ thẩm của nguyên đơn do hết thời hiệu khởi kiện (Đoạn 4, Trang 5 của Bản Án Phúc Thẩm 2021).

II. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
4. Bộ luật Dân sự năm 2015 hiện hành (“BLDS 2015”) quy định thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (Điều 429 của BLDS 2015). Đối với hợp đồng vay tài sản, không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu hoàn trả khoản nợ gốc vì đây là yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu (Điều 155.3 của BLDS 2015).

III. BÌNH LUẬN ĐIỀU 23.1(B) CỦA NGHỊ QUYẾT 03
5. Theo nhận định của tôi, hướng dẫn của HĐTP TANDTC về thời hiệu khởi kiện hợp đồng vay tài sản tại Điều 23.1(b) của Nghị Quyết 03 không bảo đảm quyền lợi của đương sự. Cụ thể, tại ví dụ được nêu tại Điều 23.1(b) của Nghị Quyết 03, HĐTP TANDTC đã nêu rõ tại hợp đồng cho vay của A đối với B, các bên đã có thỏa thuận về việc B có nghĩa vụ trả tiền lãi cho A. Tuy nhiên, HĐTP TANDTC lại hướng dẫn “[đ]ối với yêu cầu thanh toán khoản tiền lãi thì Tòa án không giải quyết vì đã hết thời hiệu khởi kiện”. Thực tế, các Tòa án địa phương, ví dụ như TAND Tỉnh Kon Tum đã áp dụng hướng dẫn này của HĐTP TANDTC vào việc xét xử các vụ án như đã được nêu tại Bản Án Phúc Thẩm 2021.
6. Hướng dẫn nêu trên của HĐTP TANDTC không bảo đảm quyền lợi của đương sự, bởi lẽ:
(a) HĐTP TANDTC đã không làm rõ “yêu cầu thanh toán khoản tiền lãi thì Tòa án không giải quyết vì đã hết thời hiệu khởi kiện” nên được áp dụng như thế nào? Cụ thể là không giải quyết toàn bộ hay chỉ giải quyết phần yêu cầu khởi kiện vẫn còn trong thời hiệu khởi kiện;
(b) Tại ví dụ nêu trên của HĐTP TANDTC, có thể thấy, mặc dù thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu thanh toán khoản tiền lãi của A đã hết; tuy nhiên đối với các khoản lãi phát sinh trong thời hạn 02 năm theo quy định tại Điều 427 của Bộ luật Dân sự 2005 (“BLDS 2005”); và 03 năm theo quy định tại Điều 429 của BLDS 2015 kể từ ngày A nộp Đơn khởi kiện trở về trước thì vẫn còn trong thời hiệu khởi kiện; và
(c) Theo ví dụ của HĐTP TANDTC, lẽ ra HĐTP TANDTC phải hướng dẫn Tòa án phải chấp nhận đối với các khoản lãi phát sinh trong thời hạn 02 năm (theo Điều 427 của BLDS 2005) và 03 năm (theo Điều 429 của BLDS 2015) kể từ ngày A nộp Đơn khởi kiện trở về trước thì mới bảo đảm quyền lợi của A. Để cho dễ hiểu, các bạn có thể xem sơ đồ tôi tự vẽ và đính kèm theo bài viết này.


Điều 23.1(b) của Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối Cao

7. Ngoài ra, để bảo đảm quyền lợi cho A, HĐTP TANDTC phải hướng dẫn Tòa án theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện—nếu có—buộc B trả thêm khoản tiền lãi cho đến ngày Tòa án ban hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

IV. KIẾN NGHỊ
8. Theo nhận định của tôi, để bảo đảm quyền lợi của các đương sự, HĐTP TANDTC cần phải có hướng dẫn khác thay thế hướng dẫn tại Điều 23.1(b) của Nghị Quyết 03 theo hướng Tòa án vẫn chấp nhận khoản lãi phát sinh trong thời hiệu khởi kiện kể từ ngày đương sự nộp đơn khởi kiện trở về trước, và tiếp tục tính lãi cho đến ngày Tòa án ban hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.


25/11/2022
Hồ Quốc Nam

Thứ Hai, 14 tháng 11, 2022

DỊCH COVID-19 LẦN ĐẦU TIÊN ĐƯỢC TÒA ÁN XEM LÀ SỰ KIỆN BẤT KHẢ KHÁNG


I. SỰ KIỆN

1. Gần đây TAND Cấp cao tại Đà Nẵng (“Tòa Án”) đã ban hành Quyết định giám đốc thẩm số 48/2022/DS-GĐT ngày 09/09/2022 về tranh chấp hợp đồng thuê nhà (“Quyết Định Giám Đốc Thẩm”). Theo đó, Tòa Án đã thừa nhận dịch Covid-19 là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trường được để loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong giao dịch dân sự (Xem: (i) https://thuvienphapluat.vn/banan/ban-an/quyet-dinh-giam-doc-tham-ve-tranh-chap-hop-dong-thue-nha-so-482022dsgdt-253501; và (ii) https://plo.vn/1-an-le-xem-dich-covid-19-la-yeu-to-khach-quan-post705783.html).

II. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT

2. Bộ luật Dân sự năm 2015 hiện hành (“BLDS”) có quy định trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác (Điều 351.2 của BLDS). Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép (Điều 156.1 của BLDS). Với Quyết Định Giám Đốc Thẩm nêu trên, Tòa Án đã lần đầu tiên thừa nhận dịch Covid-19 là sự kiện bất khả kháng theo quy định tại BLDS trong công tác xét xử.

III. PHÂN TÍCH QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM

3. Tại Quyết Định Giám Đốc Thẩm, Tòa Án đã tách dịch Covid-19 thành ra 02 lớp (2 layers): (a) Layer 1: Dịch bệnh Covid-19 không phải là điều kiện cần và đủ là sự kiện bất khả kháng; mà (b) Layer 2: Tòa Án đang có ý các Chỉ thị số 15/CT-TTg và Chỉ thị số 16/CT-TTg—và sau này là các quyết định của UBND Tỉnh Quảng Nam căn cứ trên các Chỉ thị này liên quan đến giãn cách xã hội và tạm dừng hoạt động một số cơ sở sản xuất kinh doanh—là, trên cơ sở của Layer 1, điều kiện đủ để dịch Covid-19 được xem là sự kiện bất khả kháng.

4. Cụ thể, khi xác định thời điểm bắt đầu của sự kiện bất khả kháng làm cơ sở cho Quyết Định Giám Đốc Thẩm, Tòa Án đã căn cứ vào các thời điểm có hiệu lực của các quyết định của UBND Tỉnh Quảng Nam—căn cứ trên các Chỉ thị số 15/CT-TTg và Chỉ thị số 16/CT-TTg—để xác định thời điểm bắt đầu của sự kiện bất khả kháng—xem phần Nhận định của Tòa Án, Trang 6, Trang 7 của Quyết Định Giám Đốc Thẩm.

IV. NHẬN ĐỊNH VỀ TÁC ĐỘNG CỦA QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM ĐỐI VỚI CÔNG TÁC XÉT XỬ CHUNG CỦA NGÀNH TÒA ÁN

5. Mặc dù Quyết Định Giám Đốc Thẩm chưa phải là án lệ nhưng theo nhận định riêng của tôi, Quyết Định Giám Đốc Thẩm nên được lựa chọn phát triển thành án lệ bởi lẽ Quyết Định Giám Đốc Thẩm đáp ứng được các tiêu chí lựa chọn án lệ như: (a) Có giá trị làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau, phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý, i.e., dịch Covid-19, và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể hoặc thể hiện lẽ công bằng đối với những vấn đề chưa có điều luật quy định cụ thể; (b) Có tính chuẩn mực; và (c) Có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử.

6. Về việc có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử của Quyết Định Giám Đốc Thẩm, tôi cho rằng thời gian qua đã có rất nhiều vụ án liên quan đến việc tranh chấp hợp đồng thuê nhà—trong đó có nhiều vụ án liên quan đến việc xác định chấm dứt đúng hay không đúng khi bên yêu cầu chấm dứt hợp đồng thuê nhà nại lý do dịch Covid-19 là sự kiện bất khả kháng—tuy nhiên, đường lối xét xử của các tòa án có thể đã không được thống nhất và đã tồn tại nhiều quan điểm khác nhau. Các luật sư tranh tụng có thể viện dẫn Quyết Định Giám Đốc Thẩm để yêu cầu tòa án xét xử theo quan điểm của Tòa Án đã được thể hiện tại Quyết Định Giám Đốc Thẩm, đồng thời viện dẫn thêm nghĩa vụ của tòa án phải “[b]ảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử” (Điều 2.8 của Luật Tổ chức tòa án nhân dân 2014). Tuy nhiên, các lập luận này của các luật sư tranh tụng không phải lúc nào cũng được hội đồng xét xử chấp nhận, nên theo quan điểm của cá nhân tôi, Quyết Định Giám Đốc Thẩm vẫn nên được phát triển thành án lệ để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử.

7. Thực tế, Quyết Định Giám Đốc Thẩm sẽ có nhiều tác động sâu rộng đến công tác xét xử của ngành tòa án, kể cả đối với những tranh chấp đang phát sinh hoặc vụ án đang trong quá trình xét xử, và những vụ án đã có bản án, quyết định của tòa án đã hiệu lực pháp luật. Đối với những tranh chấp đang phát sinh hoặc vụ án đang trong quá trình xét xử, các bên có liên quan và tòa án đang thụ lý giải quyết vụ án ít nhiều sẽ bị tác động bởi nội dung của Quyết Định Giám Đốc Thẩm đối với việc xác định hướng giải quyết tranh chấp và đường lối xét xử của vụ án. Ngoài ra, đối với những vụ án đã có bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì Quyết Định Giám Đốc Thẩm có thể được xem là căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bởi đã “[c]ó sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba” (Điều 326.1(c) của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015).

8. Theo nhận định của tôi, trong thời gian tới, có thể sẽ có hàng loạt bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm căn cứ theo nội dung của Quyết Định Giám Đốc Thẩm. Vấn đề này có thể rất nghiêm trọng và sẽ ảnh hưởng đến rất nhiều người đang làm công tác xét xử, nhưng biết sai, sửa sai là điều cần thiết vào lúc này để công tác xét xử ngày càng được hoàn thiện, bảo đảm công bằng cho người dân.


14/11/2022
Hồ Quốc Nam

Thứ Tư, 10 tháng 8, 2022

TẠI SAO MÌNH YÊU THA THIẾT CÔNG VIỆC CỦA MỘT LUẬT SƯ TRANH TỤNG?


Sài Gòn, ngày 10/08/2022.

Kể từ khi bắt đầu hành nghề luật, mình đã đại diện tham gia tố tụng cho rất nhiều thân chủ. Mỗi người trong số họ là một câu chuyện, một quyển sách sống động mà rất may mắn mình được lắng nghe và học hỏi. Mình cảm giác mình đã, đang, và sẽ sống một phần cuộc đời của họ thông qua những vụ án, những câu chuyện mà họ đã chia sẻ cho mình. Trong bất kỳ vụ án nào, mình đều cảm nhận được mình đang cố gắng góp một phần nhỏ để đòi lại công lý cho người dân. Đó là lý do quan trọng tại sao mình lại yêu tha thiết công việc của một luật sư tranh tụng như vậy. Đến một ngày, nếu mình không còn cảm nhận được hơi thở của công lý, chắc có lẽ mình không còn đủ can đảm để tiếp tục hành nghề luật nữa.

Một trong những vụ án mình cảm thấy tự hào và may mắn khi được tham gia là đại diện gia đình Luật sư Cù Huy Hà Vũ – Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà trong vụ án “Khiếu kiện quyết định hành chính trong quản lý Nhà nước về quản lý đất đai” với người bị kiện là Chủ tịch UBND TP.HCM. Vụ án này là một điển hình cho người dân biết được quyền và lợi ích hợp pháp mà lẽ ra họ đã phải được hưởng nhưng đã bị tước đoạt bằng những hành vi vi phạm pháp luật của những người trong tay có rất nhiều quyền lực. Trong ảnh là ông Nguyễn Dương Lương, em ruột của Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà, người đã đồng hành với mình trên hành trình đòi lại công lý nhiều năm qua. Hành trình đến công lý dù rất nhiều khó khăn, vất vả, có lúc sau rất nhiều nỗ lực nhưng kết quả lại không được như mong muốn, tuy nhiên mình luôn tìm được niềm vui trên từng bước chân trên hành trình rất dài và rất khó khăn này.


10/08/2022

Hồ Quốc Nam

http://hoquocnam.blogspot.com

Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2022

Cuộc chiến tranh của Putin tại Ukraina là chính nghĩa hay phi nghĩa?

Một vài người bạn hỏi mình: “Làm sao biết được việc Putin xâm lược Ukraina là phi nghĩa?

Mình không biết cách trả lời câu hỏi này. Vì đơn giản, đây là một cách đặt vấn đề sai.

Câu hỏi đúng phải là: “Làm sao Putin chứng minh được cuộc chiến tranh của ông ấy tại Ukraina là chính nghĩa?”.

Chừng nào Putin còn chưa chứng minh được cuộc chiến tranh của ông ấy ở Ukraina là chính nghĩa, thì lúc ấy cuộc chiến tranh ấy vẫn còn là phi nghĩa, và đáng bị lên án.


04/03/2022

Hồ Quốc Nam

http://hoquocnam.blogspot.com

Thứ Ba, 7 tháng 12, 2021

Tắt tiếng quốc ca Việt Nam trên Youtube: Không được cảm tính, vội vàng khi đánh giá vấn đề pháp lý


Trong trận bóng đá giữa đội tuyển quốc gia Việt Nam và Lào đêm qua, phần quốc ca của Việt Nam bị tắt tiếng khi phát trên Youtube. Đây là một vấn đề pháp lý, do vậy cần được hỏi và trả lời bằng những câu hỏi pháp lý. Pháp luật về Sở hữu trí tuệ của Việt Nam quy định nhà sản xuất bản ghi âm được bảo hộ quyền liên quan đến quyền tác giả—Điều 16.3 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005. Ví dụ đối với một bài hát, thì phần lời của tác giả và phần bản ghi âm của nhà sản xuất đều được pháp luật sở hữu trí tuệ bảo hộ. Do vậy, nhà sản xuất bản ghi âm được pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với bản ghi âm, và quyền này độc lập với quyền của tác giả đối phần lời của bài hát. Tóm lại, việc tắt tiếng quốc ca Việt Nam trên Youtube là một vấn đề pháp lý nên cần được đánh giá một cách cẩn trọng, khách quan, đúng với lý tưởng xây dựng một xã hội “thượng tôn pháp luật” mà nhiều người trong chúng ta mong muốn.


07/12/2021
Hồ Quốc Nam
http://hoquocnam.blogspot.com

Thứ Bảy, 13 tháng 11, 2021

Không được dùng mệnh lệnh hành chính để can thiệp vào giao dịch dân sự


Chính quyền tỉnh Lâm Đồng đau đầu vì tài sản của mình nhưng không đòi được tiền thuê đất mà còn bị thua kiện. Ảnh: CC

Bài báo dưới đây thể hiện một nguyên tắc pháp lý quan trọng: Không được dùng mệnh lệnh hành chính để can thiệp vào giao dịch dân sự.  Một giao dịch dân sự chỉ có thể thay đổi hoặc chấm dứt bằng một giao dịch dân sự hoặc theo quy định của pháp luật dân sự.  Đó cũng là cơ sở để hai cấp tòa—TAND tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm và TAND Cấp Cao tại TP.HCM xét xử phúc thẩm—tuyên hủy quyết định hành chính của UBND tỉnh Lâm Đồng liên quan đến việc thu hồi quyền sử dụng 13 căn biệt thự cổ của Công ty Casada thuê từ Sở Tài Chính tỉnh Lâm Đồng.

Bản chất của pháp luật hành chính là “mệnh lệnh, quyền uy”, thể hiện và vận dụng quyền lực của nhà nước vào hoạt động quản lý nhà nước và xã hội.  Do vậy, không thể dùng biện pháp “mệnh lệnh, quyền uy” để can thiệp vào giao dịch dân sự—vốn mang bản chất “tự do, tự nguyện thỏa thuận.”  Ở góc độ cá nhân, tôi cho rằng cả hai cấp tòa xét xử—rất dũng cảm, chính xác, và không chịu bất cứ áp lực nào về quan điểm chính trị—đã có nhận định khách quan, thận trọng, và phù hợp về mối quan hệ hợp đồng—vốn là giao dịch dân sự—giữa Công ty Casada và Sở Tài Chính tỉnh Lâm Đồng.

Bài báo có nhiều thông tin có giá trị, tuy nhiên, có lẽ người viết có nhầm lẫn khi cho rằng: ““UBND tỉnh Lâm Đồng ban hành quyết định hành chính can thiệp vào quan hệ dân sự là không đúng” – trích quan điểm của VKSND cấp cao nêu tại phiên toà năm 2017.”  Khi xét xử sơ thẩm, nếu có quan điểm thì đó là quan điểm của Kiểm Sát viên cao cấp—đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong xét xử sơ thẩm—chứ không thể có quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân Cấp Cao.  Viện Kiểm sát nhân dân Cấp Cao trong vụ án này chỉ có thể có quan điểm trong quá trình thực hiện việc kiểm sát xét xử phúc thẩm khi vụ án bị kháng cáo bởi UBND tỉnh Lâm Đồng vào năm 2018.

Link bài báo: https://laodong.vn/kinh-te/doanh-nghiep-thue-biet-thu-o-da-lat-no-chong-chat-van-thang-kien-tinh-970223.ldo


13/11/2021

Hồ Quốc Nam

http://hoquocnam.blogspot.com

Chủ Nhật, 5 tháng 9, 2021

Cá nhân bất tín trong việc vận động từ thiện có thể bị xử lý hình sự hay không?


Tôi rất ủng hộ việc mọi người làm từ thiện dưới bất cứ hình thức nào. Bản thân tôi cũng hay đóng góp cho các tổ chức, cá nhân để làm công việc thiện nguyện khi tôi có điều kiện và tôi cảm thấy hữu ích. Tuy nhiên theo tôi việc cá nhân bất tín trong việc vận động tiền từ thiện là vấn đề cần bị lên án vì nó làm lung lạc niềm tin của xã hội vào lòng tốt của con người. 

Nếu cá nhân bất tín trong việc vận động từ thiện, họ có thể bị xử lý hình sự hay không? Có thể làm rõ 02 yếu tố sau đây: 1/ Có yếu tố “dự mưu” hay không? 2/ Có thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản hay không? Thủ đoạn gian dối đó xảy ra vào thời điểm nào? Nếu chứng minh được có một trong hai yếu tố trên thì cá nhân bất tín có thể bị xử lý hình sự.

Về yếu tố “dự mưu” có thể khó chứng minh trừ trường hợp cá nhân kêu gọi từ thiện dựa trên những tình tiết, sự kiện không có thật, ví dụ như bịa đặt ra những câu chuyện không có thật như chuyện Bác sĩ Khoa rút ống thở cha mẹ ruột của mình. Đây là tình tiết, sự kiện rõ ràng để chứng minh có yếu tố “dự mưu”. Đối với thủ đoạn gian dối có thể chứng minh được bằng nhiều phương thức, trong đó có phương thức sao kê tài khoản - một phương thức mà chúng ta có thể nghe nhiều trong thời gian gần đây.

Tôi không mong ai có thể bị xử lý hình sự nhưng tôi ủng hộ một xã hội văn minh. Một xã hội càng bớt đi những điều dối trá thì xã hội ấy càng văn minh hơn. Trước khi viết bài này, tôi cũng đã tự đặt ra câu hỏi, giả sử như sự việc tương tự như thế này xảy ra ở một xã hội văn minh, thì cá nhân bất tín có thể bị xử lý như thế nào? Hay đơn giản, người ta sẽ im lặng và cho qua mọi việc.


05/09/2021

Hồ Quốc Nam

http://hoquocnam.blogspot.com

Thứ Hai, 19 tháng 12, 2016

Ngân hàng năm 2017


Năm 2017 được đánh giá là một năm biến động của các Ngân hàng tại Việt Nam. Một môi trường kinh tế vĩ mô không ổn định, tỉ lệ lạm phát cao cùng lối làm ăn chụp giựt của các ông chủ lớn của giới Ngân hàng đã làm mất niềm tin nơi nhà đầu tư và dân chúng. Hàng loạt Ngân hàng tư nhân bị mua lại với giá 0 đồng là minh họa sống động cho thấy kiểu làm ăn phe cánh, tận dụng vào các mối quan hệ chính trị của các ông chủ Ngân hàng đã bắt đầu bộc lộ điểm yếu tiêu cực. 

Một số điểm sáng

Một vài điểm sáng của Giới Ngân hàng có thể kể đến là việc tham gia của các Ngân hàng Quốc tế vào thị trường tiền tệ của Việt Nam đã mang đến những chuyển biến rõ rệt. Các Ngân hàng lớn đã có kinh nghiệm hàng trăm năm trên thị trường quốc tế như ANZ, HSBC… đang làm các nhà băng trong nước hơn lúc nào hết phải tự nỗ lực để có thể trụ vững trong môi trường cạnh tranh khốc liệt như hiện tại. Người dân trong nước được hưởng lợi từ các Ngân hàng này là chất lượng dịch vụ chuẩn mực quốc tế và lối làm ăn rõ ràng, minh bạch, chuyên nghiệp, lấy khách hàng làm trọng tâm đã được xây dựng, vun đắp từ hàng trăm năm qua. 

Bên cạnh sự tham gia thị trường của các Ngân hàng Quốc tế vào Việt Nam thì cơ cấu tín dụng của các Ngân hàng Quốc nội cũng là một điểm sáng triển vọng. So với trước đây, cơ cấu tín dụng không còn tập trung vào khối doanh nghiệp có vốn Nhà nước cho thấy tư duy mới và chuyển biến tích cực hơn trong việc cấp tín dụng của Ngân hàng. Năm 2011, trong tổng số các khoản vay của tám (08) ngân hàng lớn của Việt Nam, tỉ lệ cấp tín dụng cho khối các doanh nghiệp Nhà nước lên đến 19%. Đến hết năm 2016, tỉ lệ cấp tín dụng này đã giảm xuống 15%. Điều này là một chuyển biến đáng khích lệ cho thấy việc cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước được tiến hành trong giai đoạn nắm quyền của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã bắt đầu mang lại hiệu quả tích cực.

Để đối phó với sự cạnh tranh khốc liệt của các Ngân hàng Quốc tế, các Ngân hàng Quốc nội có nhiều sự lựa chọn, điều chỉnh, nhưng có thể thấy rõ rệt nhất là sự gia tăng vốn của các nhà đầu tư nước ngoài vào cơ cấu vốn của các Ngân hàng Quốc nội. Đây là điều tốt đối với các Ngân hàng Quốc nội đồng thời cũng là điểm sáng tiếp theo. Các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào Ban Quản trị của các Ngân hàng Quốc nội, đòi hỏi các Ngân hàng này phải tự làm mới chính mình, đi theo hướng chuyên nghiệp, công khai, minh bạch để giữ chân nhà đầu tư. Báo cáo tài chính công khai của các Ngân hàng Quốc nội không thể đi theo hướng “làm cho có” hoặc “báo cáo láo” như trước đây nữa. Đồng thời kinh nghiệm quản trị và chuẩn mực dịch vụ của các nhà đầu tư nước ngoài sẽ bắt buộc các Ngân hàng Quốc nội hoạt động theo hướng chuyên nghiệp hơn, minh bạch hơn. 

Một vài điểm tối

Sự gia nhập của các Ngân hàng Quốc tế vào thị trường tiền tệ của Việt Nam là con dao hai lưỡi. Bên cạnh việc mang lại dịch vụ chuẩn mực quốc tế cho người dân Việt Nam, các Ngân hàng Quốc tế còn là những đối thủ đáng gờm, có thể cướp mất công ăn, việc làm, làm đại đa số các Ngân hàng Quốc nội bị phá sản do không thể cạnh tranh lại. Tỉ lệ lãi biên (NIM) thấp và chi phí tín dụng cao mà các Ngân hàng Quốc nội đang hứng chịu, có sự góp sức to lớn từ việc các Ngân hàng Quốc tế tham gia vào thị trường tiền tệ Việt Nam.

Việc các Ngân hàng bị mua lại với giá 0 đồng gây ảnh hưởng sâu sắc tới sự phát triển kinh tế đất nước ở cả tầm vi mô lẫn vĩ mô. Do mất niềm tin, người dân thay vì giao dịch với Ngân hàng đã đầu tư sang các kênh khác vốn rủi ro hơn rất nhiều. Lãi suất huy động của các Ngân hàng thường ở mức 7 – 8% được đánh giá là một kênh đầu tư khá hiệu quả khi nhìn nhận tổng quan, nền kinh tế đất nước đang khá èo uột với tỉ lệ tăng trưởng GDP chỉ ở mức 6.2% trong năm 2017 trong khi tỉ lệ lạm phát được dự đoán ở mức 6 – 7%. 

Các chỉ số tài chính quan trọng đối với Ngân hàng là ROA (tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản) và ROE (tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu) lần lượt chỉ đạt 0.52% và 6.26% cho thấy tính kém hiệu quả của hoạt động kinh doanh tiền tệ của các Ngân hàng. Các Ngân hàng chỉ thật sự kinh doanh có hiệu quả, mang lại lợi nhuận dương khi chỉ số ROE phải cao hơn giá trị lạm phát thực tế mà Chính phủ công bố kèm theo chỉ số ROA cao lên một cách tương đương. Khi các chỉ số ROA và ROE thấp như hiện tại, điều này chứng tỏ các Ngân hàng đang bị mất vốn, tài sản thực theo thời gian đang bị vơi dần.

Điểm yếu tiếp theo của các Ngân hàng Quốc nội trong năm 2017 mà bản thân các Ngân hàng này có thể không thể tự giải quyết được hoặc giải quyết trong ngắn và trung hạn là tỷ lệ nợ xấu còn quá cao. Theo báo cáo vào cuối năm 2015, tỉ lệ nợ xấu trung bình 2.4%, tuy nhiên theo một số phân tích thì tỉ lệ nợ xấu này đã không phản ánh đầy đủ tình hình thực tế. Theo một số nghiên cứu, tỉ lệ nợ xấu đã lên đến 9%, kể cả phần nợ đã chuyển sang VAMC (Công ty Quản lý Tài Sản chuyên đi mua nợ xấu của các Ngân hàng). Như vậy, rõ ràng với việc hai chỉ số quan trọng là ROA và ROE lần lượt chỉ đạt 0.52% và 6.26% so với tỉ lệ nợ xấu là 9%, các Ngân hàng thật sự đang kinh doanh thua lỗ, làm mất vốn của các nhà đầu tư.

Kết luận

Các trở ngại pháp lý góp phần không nhỏ vào việc các Ngân hàng Quốc nội đang vẫy vùng trong đống nợ xấu. Để đẩy mạnh việc thu hồi các khoản nợ xấu này, các nhà làm luật cần phải gia tăng hiệu quả thực thi của văn bản pháp lý. Thời gian giải quyết một vụ kiện dân sự của các Ngân hàng để giải quyết tài sản của người thế chấp cần được rút ngắn chứ không thể kéo dài năm này qua năm khác như hiện tại.

19.12.2016
Hồ Quốc Nam

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2016

Khía cạnh pháp lý của vụ Hoa Hậu T.H.P.N


Hoa hậu T.H.P.N bị kiện ra toà về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của đại gia C ở Thành phố Hồ Chí Minh với số tiền lên đến 16.5 tỷ. Nếu toà tuyên án T.H.P.N phạm tội này, cô ấy sẽ đối mặt với bản án tù từ 12 đến 20 năm, có thể tù chung thân theo điểm a, khoản 4, Điều 174, Bộ Luật hình sự 2015. Tại toà, T.H.P.N đã đưa ra các bằng chứng rằng thật ra số tiền 16.5 tỷ mà đại gia C đưa cho cô là khoản tiền thanh toán liên quan đến một “hợp đồng tình dục” nên theo tôi Toà sẽ không tuyên cô ấy phạm tội này. Việc Hoa hậu T.H.P.N đưa ra các tin nhắn, email thể hiện việc thoả thuận giữa T.H.P.N và đại gia C liên quan đến “hợp đồng tình dục” được xem là những chứng cứ quan trọng có thể gỡ tội cho cô ấy theo Điều 86, 87, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Vậy Toà có thể tuyên Hoa hậu T.H.P.N phạm tội bán dâm và đại gia C tội mua dâm hay không? Theo quan điểm của Bộ luật Hình sự 2015 thì việc bán dâm và mua dâm (trừ mua dâm người dưới 18 tuổi theo Điều 329, Bộ luật Hình sự 2015) không phải là tội phạm và sẽ không bị xử lý hình sự. Toà án chỉ có thể phạt Hoa hậu T.H.P.N và đại gia C tội bán dâm và mua dâm theo quy định tại Điều 22, 23 của Pháp lệnh phòng chống mại dâm 2003. Chế tài đối với hai tội này không lớn. Đại gia C cùng lắm là bị phạt hành chính. Hoa hậu N bị phạt hành chính, cùng lắm là bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Vậy số tiền 16.5 tỷ mà Hoa hậu T.H.P.N đã nhận của đại gia C được xử lý như thế nào? Đương nhiên là Hoa hậu T.H.P.N phải trả lại đủ cho đại gia C rồi. Cái “hợp đồng tình dục” mà đại gia C ký với Hoa hậu N về mặt pháp lý chỉ là tờ giấy lộn không hơn không kém vì nó không có cơ sở pháp lý. Một thoả thuận dân sự muốn được công nhận phải đảm bảo không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội theo tinh thần của Bộ luật Dân sự 2015 (khoản 2, Điều 3). 

Nãy giờ nói chuyện pháp lý, giờ nói chuyện đời nè, nó hơi phũ một tí: Đại gia C không có ngu, có 16.5 tỷ trong tay để ký “hợp đồng tình dục” với Hoa hậu thì không thể nào ngu được. Luật sư tư vấn cho đại gia C cũng không có ngu. Dù gì đại gia C cũng đã được tư vấn là trong vụ này dù ít, dù nhiều mình cũng sẽ lấy được tiền lại dù có hơi mất uy tín một tí. Nhưng có lẽ uy tín chẳng là cái gì cả đối với một người có phần bệnh hoạn về đời sống tình dục như ông. Còn với Hoa hậu T.H.P.N, em phải luôn nhớ hai câu thơ này trong Truyện Kiều của Nguyễn Du để làm hành trang cho cả cuộc đời còn lại: “Kiếp hồng nhan có mỏng manh/Nửa chừng xuân thoắt gẫy cành thiên hương.”

22.09.2016
Hồ Quốc Nam

Thứ Bảy, 30 tháng 7, 2016

Định hướng nghiên cứu


Hướng nghiên cứu hẹp của mình trong 5 năm tới về lĩnh vực kinh tế sẽ là các nghiệp vụ ngân hàng trong lĩnh vực huy động vốn và cấp tín dụng doanh nghiệp. Trong lĩnh vực pháp lý, mình sẽ trú trọng nhiều hơn đến các vấn đề về sở hữu trí tuệ đối với các quyền về tài sản của ngân hàng được bảo hộ theo Luật Sở hữu trí tuệ. Trong ba tháng tới, mình sẽ làm việc sâu với NCS.Nguyễn Ngọc Duy Mỹ, ĐH.Kinh tế TP.HCM để viết một khoá luận chuyên sâu về một vài tranh chấp và phương hướng giải quyết đối với nhãn hiệu đã được bảo hộ của một ngân hàng thương mại. Mình tin, chỉ cần mình nỗ lực thì mình sẽ có kết quả tốt. Còn trong lĩnh vực báo chí, truyền thông, mình tin trong thời gian tới sẽ có sự dịch chuyển mạnh mẽ từ các phương tiện truyền thông cổ điển sang hướng “new media” – có thể tạm hiểu là “các phương tiện truyền thông hiện đại”. Nếu ai đó quan tâm đến “new media” thì nên đọc thật nhiều tài liệu về “website thế hệ 3.0” vì mình tin sự dịch chuyển truyền thông trong thời gian tới (đâu đó chỉ trong vòng 5 – 10 năm thôi) sẽ rất mạnh mẽ, đau đớn và không thể tránh khỏi. Những người làm nghề báo, truyền thông phải chuẩn bị sẵn sàng cho mình tâm thế phải thay đổi và thích nghi nếu không muốn bị đào thải. Ba thứ đó thôi thì mình đã không còn thời gian để nghĩ những chuyện khác nữa.

30.07.2016
Hồ Quốc Nam

Định hướng nghiên cứu


Hướng nghiên cứu hẹp của mình trong 5 năm tới về lĩnh vực kinh tế sẽ là các nghiệp vụ ngân hàng trong lĩnh vực huy động vốn và cấp tín dụng doanh nghiệp. Trong lĩnh vực pháp lý, mình sẽ trú trọng nhiều hơn đến các vấn đề về sở hữu trí tuệ đối với các quyền về tài sản của ngân hàng được bảo hộ theo Luật Sở hữu trí tuệ. Trong ba tháng tới, mình sẽ làm việc sâu với NCS.Nguyễn Ngọc Duy Mỹ, ĐH.Kinh tế TP.HCM để viết một khoá luận chuyên sâu về một vài tranh chấp và phương hướng giải quyết đối với nhãn hiệu đã được bảo hộ của một ngân hàng thương mại. Mình tin, chỉ cần mình nỗ lực thì mình sẽ có kết quả tốt. Còn trong lĩnh vực báo chí, truyền thông, mình tin trong thời gian tới sẽ có sự dịch chuyển mạnh mẽ từ các phương tiện truyền thông cổ điển sang hướng “new media” – có thể tạm hiểu là “các phương tiện truyền thông hiện đại”. Nếu ai đó quan tâm đến “new media” thì nên đọc thật nhiều tài liệu về “website thế hệ 3.0” vì mình tin sự dịch chuyển truyền thông trong thời gian tới (đâu đó chỉ trong vòng 5 – 10 năm thôi) sẽ rất mạnh mẽ, đau đớn và không thể tránh khỏi. Những người làm nghề báo, truyền thông phải chuẩn bị sẵn sàng cho mình tâm thế phải thay đổi và thích nghi nếu không muốn bị đào thải. Ba thứ đó thôi thì mình đã không còn thời gian để nghĩ những chuyện khác nữa.

30.07.2016
Hồ Quốc Nam

Thứ Năm, 16 tháng 10, 2014

MỘT VÀI BẤT CẬP CỦA THỦ TỤC THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP

Luật Doanh nghiệp 2005 là văn bản pháp lý quan trọng giúp các nhà đầu tư, kinh doanh dễ dàng hơn trong việc khởi sự một doanh nghiệp. Mặc dù vậy theo tôi luật vẫn còn một vài điểm bất cập gây phiền hà cho các nhà đầu tư, kinh doanh trong giai đoạn khởi sự này.

Đầu tiên cần phải nói đến là đối tượng được quyền thành lập doanh nghiệp theo điểm a, khoản 2, Điều 13: “Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình.” Theo tôi, Nhà nước nên loại luôn các đối tượng này ra khởi đối tượng được quyền thành lập doanh nghiệp. Việc chứng minh các tổ chức, cá nhân này có hay không thu lợi riêng cho mình là bất khả thi trong cơ chế quản lý còn nhiều lỏng lẻo của nước ta hiện nay. Việc các công ty lớn của Quân đội như Viettel, Dầu khí độc quyền một số ngành quan trọng của đất nước sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh kinh doanh cùng ngành nghề. Bên cạnh đó, việc các Tổng Giám đốc mang hàm tướng đi kinh doanh tại các đơn vị này tạo nên những tiền lệ “không giống ai.” Họ có thể tận dụng quyền thế, quan hệ của mình để chèn ép các đối thủ trong cùng lĩnh vực. Hiện nay, Bộ Quốc phòng đang quản lý khoảng 104 doanh nghiệp hoạt động đa dạng trên nhiều lĩnh vực kinh doanh tại Việt Nam như: Ngân hàng, Viễn thông, Dệt may, Da giày, Dược phẩm, Bất động sản,... Theo tôi đây là một thực tế rất đáng báo động.

Thêm nữa là việc hạn chế những người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, thành viên hợp danh của công ty hợp danh; thành viên hợp tác xã; chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân; vi phạm nghĩa vụ nộp đơn mở thủ tục phá sản hoặc có hành vi cất giấu, tẩu tán tài sản của doanh nghiệp bị phá sản có thể bị cấm quản lý, thành lập doanh nghiệp trong ba năm sẽ gây khó khăn cho các chủ thể này tiếp tục công việc kinh doanh của mình theo điểm g, khoản 2, Điều 13, Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Phá sản 2014. Ông bà ta thường hay nói “thương trường là chiến trường”, do đó việc các cá nhân, tổ chức nộp đơn xin phá sản là chuyện thường ngày ở huyện. Tuy nhiên do một số vướng mắc trong pháp lý, thủ tục về phá sản doanh nghiệp hiện tại ở nước ta còn nhiều bất cập. Nhiều doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam khi nộp đơn xin phá sản phải mất thời gian lên đến gần năm năm. Điều này dễ tạo ra hiện tượng “bỏ của chạy lấy người” của các doanh nghiệp nước ngoài trong thời gian gần đây. Theo tôi nghĩ việc vi phạm nghĩa vụ nộp đơn mở thủ tục phá sản hoặc có hành vi cất giấu, tẩu tán tài sản của doanh nghiệp bị phá sản chỉ nên chế tài bằng cách phạt tiền thật nặng chứ không nên cấm các đối tượng vi phạm thành lập doanh nghiệp thời hạn lên đến ba năm. Điều này gây hạn chế cho việc “thua keo này ta bày keo khác” của các cá nhân, tổ chức khi doanh nghiệp của họ gặp thất bại.

Thứ ba cần phải kể đến là hợp đồng trước đăng ký kinh doanh. Khoản 3, Điều 14 quy định: “Trường hợp doanh nghiệp không được thành lập thì người ký kết hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều này chịu trách nhiệm hoặc liên đới chịu trách nhiệm tài sản về việc thực hiện hợp đồng đó.” Theo tôi, cần phải quy định rõ ràng cho người chịu trách nhiệm trong trường hợp doanh nghiệp không được thành lập. Theo đó, cần quy trách nhiệm cho tất cả các bên liên quan đến việc thành lập doanh nghiệp. Từ đó cần bỏ quy định người ký kết hợp đồng chịu trách nhiệm tài sản về việc thực hiện hợp đồng đó. Rõ ràng, việc chứng minh các bên liên quan đến việc ký hợp đồng trước đăng ký kinh doanh là rất dễ dàng.

Thứ tư, trong việc thành lập doanh nghiệp thì việc biết được lĩnh vực nào bị cấm kinh doanh theo quy định của Nhà nước là rất quan trọng. Tuy nhiên theo Luật Doanh nghiệp, mà cụ thể là khoản 1, Điều 24 lại nói rất chung chung về lĩnh vực cấm kinh doanh. Theo tôi, Chính phủ nên có nghị định quy định cụ thể về các lĩnh vực này, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư khi muốn kinh doanh một lĩnh vực mới.

Thứ năm, thực tế trong việc thành lập doanh nghiệp hiện nay, việc kiểm tra vốn điều lệ của các doanh nghiệp rất lỏng lẻo. Điều này có thể gây khó khăn trong việc giải quyết các rắc rối pháp lý phát sinh sau này khi căn cứ vào vốn điều lệ của doanh nghiệp. Tôi có nhiều người bạn cùng nhau thành lập công ty cổ phần, họ thực chất không góp đồng vốn nào vào công ty nhưng vẫn nhận được giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh với số vốn điều lệ lên đến năm trăm triệu, một tỷ, thậm chí hai tỷ đồng. Theo tôi, tình trạng tồn tại vốn ảo là rất phổ biến tại các doanh nghiệp mới được thành lập hiện nay. Bên cạnh đó, số lượng các doanh nghiệp đã được thành lập lâu năm, am hiểu về pháp luật nhưng vẫn cố tình đăng ký vốn ảo thật cao cũng chiếm một tỷ lệ lớn. Để khắc phục được tình trạng này, theo tôi việc đăng ký vốn không nên tuỳ tiện như hiện tại. Bên cạnh đó, công tác kiểm toán tài sản của Nhà nước cần được minh bạch, tránh trường hợp khai gian làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đối tác làm ăn với doanh nghiệp sau này.
 
16.10.2014
Hồ Quốc Nam