Labels (CÁC THỂ LOẠI):

AE-ECONOMICS (4) AE-JOURNALISM (5) AE-LAW (6) AE-WRITINGS (17) ANH VĂN (9) ÂM NHẠC (15) BÁO CHÍ (33) CLIPS (33) DỊCH THUẬT (21) ĐỊA DANH (7) GHI CHÉP (139) GÓP NHẶT (22) HÌNH ẢNH (16) KINH TẾ (20) LUẬT (32) PHIM (7) SÁCH (14) THƠ (29) TÔN GIÁO (3) TRIẾT HỌC (4) TRUYỆN NGẮN (20)
Hiển thị các bài đăng có nhãn TRIẾT HỌC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TRIẾT HỌC. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 21 tháng 8, 2014

Mác – Lê đã lỗi thời!

Lênin là một chính trị gia thuần tuý, không có gì đóng góp cho Triết học thì không đáng bàn. Những lời lẻ của các chính trị gia màu mè, hoa, lá, cành… không có giá trị khoa học thì không đáng để quan tâm. Viết lách để phục vụ cho mục đích chính trị của mình thì tôi xem đó là những thằng điếm chính trị. Chỉ có khoa học được thực chứng một cách rõ ràng mới là thước đo cho sự đúng đắn, lỗi lạc của một con người.

Còn Mác được xem là một Triết gia. Vậy ông đóng góp được gì cho nền Triết học? Nhiều người cho rằng đóng góp lớn nhất của Mác cho Triết học là Học thuyết Giá trị thặng dư. Nhiều người xếp Mác vào hàng Kinh tế gia hơn là Triết gia bởi những đóng góp của ông cho Kinh tế học.

Xin thưa ai học về Kinh tế, cộng với một cái đầu biết suy nghĩ, cộng với một ít lương tri sẽ thấy được nhiều sai sót nghiêm trọng của cái gọi là Học thuyết Giá trị thặng dư. Ai không có cơ hội học Kinh tế, chỉ cần đọc một vài cuốn sách cơ bản về Kinh tế vi mô, động não một tí cũng sẽ phát hiện ra cái sai trong học thuyết của Mác. Điều kiện đặt ra ở đây là người đọc sách phải có đầu óc bình thường, không mơ tưởng mình đang ở trên mây, không mơ tưởng về một thiên đường giả tạo!

Giá trị thặng dư là cái gì?

Học thuyết giá trị thặng dư là phát minh quan trọng thứ hai sau biện luận duy vật lịch sử của Marx. Nội dung chính của học thuyết phát biểu rằng sản xuất và chiếm hữu giá trị thặng dư là hình thức đặc biệt trong chủ nghĩa tư bản về sản xuất và chiếm hữu sản phẩm thặng dư, nghĩa là hình thức cao nhất của sự tha hóa con người đối với hoạt động của mình, đối với sản phẩm từ hoạt động đó, đối với chính mình, đối với người khác.

Trong học thuyết này Marx đưa ra công thức T-H-T’ (tiền-hàng hóa-tiền) để minh họa cho sự biến đổi của vốn (tư bản) dạng tiền sang dạng hàng hóa và cuối cùng quay trở lại dạng tiền ở mức cao hơn mức ban đầu một lượng ΔT (nghĩa là T’=T+ ΔT). Bởi tất cả giá trị được tạo thành trong quá trình biến đổi thông qua sản xuất hàng hóa là do lao động (theo Thuyết giá trị về lao động), mà chủ yếu là lao động của người làm thuê, nên giá trị thặng dư ΔT cũng là giá trị do lao động kết tinh. Tuy nhiên, giá trị này không được chia đều cho những người trực tiếp làm ra nó, mà thuộc quyền sở hữu của chủ tư bản.

Có một số người cho rằng giá trị thặng dư hoàn toàn là của người làm thuê tạo ra trong khi nhà tư bản không đóng góp chút gì. Để tránh được sự hiểu lầm như trên ta nên đi sâu tìm hiểu phân tích thêm về cả một guồng máy nào đã tạo nên giá trị thặng dư:

Nó sai như thế nào?

Ta gọi toàn bộ số tiền dôi ra trong quá trình kinh doanh sản xuất nói chung là giá trị thặng dư: ΔT=m thì ta nên phân tách m thành nhiều phần nhỏ là các thành tố trong toàn bộ bộ máy (doanh nghiệp) đã tạo ra m như sau:

m= m1 + m2 + m3 +m4 + m5 + m6 + m7 + m8 + m9 + m10 +...

Trong đó:
m1: là phần tiền bù đắp cho tỉ lệ lạm phát để đảm bảo giá trị của đồng tiền theo thời gian |Tt|=|Ts+m1| (chẳng hạn là năm sau thì 11 đồng mới có giá trị bằng 10 đồng năm trước)
m2: giá trị thặng dư của lao động quá khứ tích lũy trong tư bản (được hiểu là tiền đẻ ra tiền mà không phải làm gì cả ví dụ được tính tương đương với lãi suất trái phiếu chính phủ hoặc lãi suất ngân hàng trừ đi tỉ lệ lạm phát. Do đó LSNH=m1+m2;
m3: công của nhà tư bản đã có ý tưởng và có công xây dựng nên bộ máy (công ty chẳng hạn) sản xuất ra giá trị thặng dư này
m4: Chi phí trả cho sự mạo hiểm do nhà tư bản đã đầu tư vốn
m5: Trả cho nhà tư bản đã có công quản lý vận hành đào tạo công nhân.
m6: Trả cho các lao động đặc biệt của nhà tư bản mà các lao động này người công nhận không thể làm thay được.
m7: trả lại tiền ăn học cho nhà tư bản.
m8: trả cho công của nhà tư bản đã tạo công ăn việc làm cho người lao động, tạo đà phát triển cho xã hội giảm tỷ lệ thất nghiệp đỡ tránh các tệ nạn do bần cùng hóa xã hội như: ăn xin, trộm cắp,thất học, buôn gian bán lậu...
m9: thuế. Tại sao phải đóng thuế? Các sắc thuế ngoài việc thu về các phần đóng góp của quốc gia trong hoạt động của doanh nghiệp còn có ý nghĩa điều tiết lại giá trị thặng dư nhà tư bản đã bóc lột nhân công (nếu có)
m10: của người lao động tạo ra.

Xin các ngài đừng tiếp tục ôm xác chết! Mỗi lần nghe đến Học thuyết Mác - Lê là tôi muốn nôn mửa!

21.8.2014
Hồ Quốc Nam

Thứ Ba, 20 tháng 5, 2014

Bùi Tiến Dũng và bê tông cốt tre

Ngày xưa Thánh Gióng dùng tre để đánh đuổi giặc ngoại xâm. Ngày nay Bùi Tiến Dũng dùng tre để xây cột bê tông nhằm ăn bớt sắt thép. Một người bạn nói với tôi như vậy. Người đó còn hỏi thêm: "Đó có phải là nỗi nhục của mỗi người Việt Nam chúng ta?".

Sự việc đã qua lâu, không chắc nhiều người còn nhớ. Thế trận cuộc đời vẫn mãi xoay, người ta không thể tự mình kiểm soát mọi thứ. Ngày nay chúng ta đặt ra vô số luật lệ, đó là luật nhân tạo. Nhưng luật nhân tạo thì mãi mãi không thể nào thắng được luật tự nhiên, đó là luật của trời.

Trong câu chuyện mà tôi vừa kể thì Thánh Gióng dùng tre để đánh đuổi giặc Ân chính là đại diện cho luật tự nhiên. Ở đó, lòng yêu nước của nhân dân xuất phát một cách vô vụ lợi. Người ta có xu hướng bảo vệ nơi chôn nhau, cắt rốn, cũng như sinh tồn của mình. Đặc điểm này không chỉ có ở loài ngoài mà dường như loài động vật bậc cao nào cũng có.

Luật tự nhiên tồn tại mọi lúc, mọi nơi trong đời sống của chúng ta. Nó chi phối mọi hoạt động trong đời sống hàng ngày. Nó có những sự trừng phạt vô cùng ghê ghớm mà có khi chúng ta không đủ minh triết để nhìn nhận thấy.

Theo tôi, nếu muốn dùng luật nhân tạo để thay đổi luật tự nhiên thì đó là ảo tưởng và luật tự nhiên sẽ trừng phạt chúng ta một cách ghê ghớm. Theo tôi, đề ra mô hình Xã hội chủ nghĩa với cách sống như trên thiên đường là sai lầm ghê ghớm của Marx. Trong học thuyết tư tưởng của Marx, thì con người không còn đơn thuần tuân theo luật tự nhiên nữa mà là con người của thần thánh. Điều này dễ bắt gặp trong nhiều loại đạo trên thế giới này như Phật, Hồi, Thiên chúa. Nếu phân tích theo kiểu này thì cũng dễ hiểu khi nhiều người cho rằng Chủ nghĩa Cộng sản cũng là một tôn giáo.

20.5.2014
Hồ Quốc Nam
http://hoquocnam.blogspot.com

Chủ Nhật, 20 tháng 10, 2013

Thử nhìn lại Học thuyết giá trị thặng dư của Mác

I. Khái quát về Học thuyết Giá trị thặng dư của Mác
Trong sản xuất, hàng hóa sức lao động sản xuất ra giá trị thặng dư và tiền trở thành tư bản.

Hàng hóa sức lao động: là một hàng hóa đặc biệt, nó tồn tại trong con người và người ta chỉ có thể bán nó trong một thời gian nhất định và hai thuộc tính của nó khác với hàng hóa thông thường.

Tư bản: là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bốc lột công nhân làm thuê.

Tư bản có thể được khái quát qua công thức: T – H – T’.

Bản chất của tư bản: thể hiện một quan hệ sản xuất xã hội, giai cấp tư sản chiếm đoạt giá trị thặng dư do giai cấp công nhân làm ra.

Tư bản bất biến: là bộ phận tư bản mua tư liệu sản xuất, gồm máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu… Tư bản bất biến được sử dụng trong toàn bộ quá trình sản xuất, nhưng giá trị được bảo toàn và chuyển dần vào sản phẩm, không thay đổi về lượng.

Tư bản khả biến: là bộ phận tư bản mua hàng hóa sức lao động. Trong quá trình sản xuất, nó không tái hiện ra, nhưng bằng lao động trừu tượng, công nhân tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân sức lao động, tức là biến đổi về lượng.

Căn cứ của sự phân chia tư bản bất biến và tư bản khả biến là tính chất hai mặt của lao động sản xuất xã hội. Lao động cụ thể bảo toàn và chuyển giá trị của tư liệu sản xuất vào giá trị sản phẩm. Còn lao động trừu tượng tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động. Phần chênh lệch ấy là giá trị thặng dư.

Ý nghĩa của việc phân chia:

- Việc phân chia tư bản bất biến và tư bản khả biến vạch rõ bản chất bốc lột của chủ nghĩa tư bản, chỉ có lao động của công nhân làm thuê mới tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản.

- Giá trị thặng dư là một bộ phận của giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không.

Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư:

+ Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài ngày lao động trong khi thời gian lao động tất yếu không thay đổi.

+ Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu trong điều kiện độ dài ngày lao động không thay đổi → thời gian lao động tăng lên do đó tăng năng suất lao động xã hội trong các ngành sản xuất hàng tiêu dùng.

II. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn


Giá trị thặng dư là một trong những khái niệm trung tâm của kinh tế chính trị Mác - Lênin. Các Mác đã nghiên cứu và đưa ra một số công thức tính toán xung quanh khái niệm này trong các tác phẩm viết về kinh tế chính trị của ông. Nó được sử dụng để khẳng định lao động thặng dư của công nhân bị các nhà tư bản lấy đi, là nền tảng cho sự tích lũy tư bản.

1. Định nghĩa giá trị thặng dư

Giá trị thặng dư được Marx xem là phần chênh lệch giữa giá trị hàng hóa và số tiền nhà tư bản bỏ ra. Trong quá trình kinh doanh, nhà tư bản bỏ ra tư bản dưới hình thức tư liệu sản xuất gọi là tư bản bất biến và bỏ ra tư bản để thuê mướn lao động gọi là tư bản khả biến. Tuy nhiên, người lao động đã đưa vào hàng hóa một lượng giá trị lớn hơn số tư bản khả biến mà nhà tư bản bỏ ra. Phần dư ra đó gọi là giá trị thặng dư.
Có thể lấy một ví dụ như sau để giải thích: Giả sử một người lao động trong một giờ làm ra được giá trị sản phẩm là 1.000 đồng. Đến giờ thứ hai trở đi, trên cơ sở sức lao động đã bỏ ra ở giờ thứ nhất, người lao động đó sẽ làm ra được 1.100 đồng. Số tiền chênh lệch đó chính là giá trị thặng dư sức lao động.

2. Học thuyết về giá trị thặng dư

Học thuyết giá trị thặng dư là phát minh quan trọng thứ hai sau biện luận duy vật lịch sử của Marx. Nội dung chính của học thuyết phát biểu rằng sản xuất và chiếm hữu giá trị thặng dư là hình thức đặc biệt trong chủ nghĩa tư bản về sản xuất và chiếm hữu sản phẩm thặng dư, nghĩa là hình thức cao nhất của sự tha hóa con người đối với hoạt động của mình, đối với sản phẩm từ hoạt động đó, đối với chính mình, đối với người khác.

Trong học thuyết này Marx đưa ra công thức T-H-T’ (tiền-hàng hóa-tiền) để minh họa cho sự biến đổi của vốn (tư bản) dạng tiền sang dạng hàng hóa và cuối cùng quay trở lại dạng tiền ở mức cao hơn mức ban đầu một lượng ΔT (nghĩa là T’=T+ ΔT). Bởi tất cả giá trị được tạo thành trong quá trình biến đổi thông qua sản xuất hàng hóa là do lao động (theo Thuyết giá trị về lao động), mà chủ yếu là lao động của người làm thuê, nên giá trị thặng dư ΔT cũng là giá trị do lao động kết tinh. Tuy nhiên, giá trị này không được chia đều cho những người trực tiếp làm ra nó, mà thuộc quyền sở hữu của chủ tư bản.

Khác với công thức H-T-H (hàng hóa-tiền-hàng hóa) phản ánh chức năng trung gian của tiền trong trao đổi, công thức T-H-T’ phản ánh sự luân chuyển và tự phát triển của tư bản. Tư bản dưới dạng tiền trở thành một chủ thể tự thân, đối lập với sức lao động, bóc lột sức lao động để nuôi lớn mình lên. Marx chỉ ra rằng đó là quy luật vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Theo công thức đã dẫn thì tư bản có khả năng lớn lên vô giới hạn. Tuy nhiên Marx cũng chỉ ra giới hạn nhất định của phát triển tư bản do chi phối của quy luật lợi nhuận trung bình. Lợi nhuận trung bình xảy ra do sự cạnh tranh tư bản giữa các ngành kinh tế khác nhau. Mặc khác, do khả năng chi trả trong thị trường cho nhu cầu tiêu dùng là có hạn, nên điều đó cũng kìm hãm tốc độ vận động của tư bản.

Hình thức cao nhất của sự phát triển tư bản là cho vay lãi. Chủ nhân của tư bản vay lãi có cảm giác rằng tiền đẻ ra tiền và công thức vận động của tư bản biến thành T-T’.
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị thặng dư

* Năng suất lao động
 * Thời gian lao động

* Cường độ lao động

* Công nghệ sản xuất

* Thiết bị, máy móc

* Vốn

4. Ý nghĩa thực tiễn

Xét thuần túy trong lĩnh vực kinh tế, công thức trên cho thấy bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào có tiền (vốn) được đưa vào trong quá trình sản xuất và kinh doanh trực tiếp hay gián tiếp như thông qua đầu tư chứng khoán, thậm chí gửi ngân hàng sẽ sinh lời. Đồng tiền chỉ trở thành công cụ sinh lời nếu đầu tư vào sản xuất hay kinh doanh. Mỗi cá nhân đều có thể trở thành nhà tư bản nếu biết sử dụng hợp lý tiền của mình trong đầu tư kinh doanh. Nếu chỉ để tích lũy thuần túy thì đó là đồng tiền chết, không những không có lợi cho cá nhân đó mà còn không có lợi cho những người khác cần vốn để sản xuất.

Trong bất kỳ xã hội nào cũng cần phải tìm cách tăng giá trị thặng dư, nếu áp dụng được các công nghệ sản xuất tiên tiến, sử dụng được tri thức, trí tuệ vào trong quá trình sản xuất sẽ làm tăng giá trị thặng dư mà không cần phải kéo dài thời gian lao động hay cường độ lao động ảnh hưởng đến những người sản xuất.

Công thức cũng chỉ ra cách thức tích lũy làm tăng số tiền, là cơ sở để tái sản xuất mở rộng, phát triển quy mô sản xuất, tăng trưởng kinh tế.

Phương pháp đo lường giá trị thặng dư:

Các quan niệm khác về giá trị thặng dư: Có một số người cho rằng giá trị thặng dư là của người làm thuê tạo ra mà không phải của nhà tư bản. Để tránh được sự hiểu lầm như trên ta nên đi sâu tìm hiểu phân tích thêm về cả một guồng máy nào đã tạo nên giá trị thặng dư:

Ta gọi toàn bộ số tiền dôi ra trong quá trình kinh doanh sản xuất nói chung là giá trị thặng dư: ΔT = m thì ta nên phân tách m thành nhiều phần nhỏ là các thành tố trong toàn bộ bộ máy (doanh nghiệp) đã tạo ra m như sau:

m = m1 + m2 + m3 +m4 + m5 + m6 + m7 + m8 + m9 + m10 + m11 +...

Trong đó:

* m1: là phần tiền bù đắp cho tỉ lệ lạm phát để đảm bảo giá trị của đồng tiền theo thời gian |Tt| = |Ts+m1| (chẳng hạn là năm sau thì 11 đồng mới có giá trị bằng 10 đồng năm trước);

* m2: giá trị thặng dư của lao động quá khứ tích lũy trong tư bản (được hiểu là tiền đẻ ra tiền mà không phải làm gì cả ví dụ được tính tương đương với lãi suất trái phiếu chính phủ hoặc lãi suất ngân hàng trừ đi tỉ lệ lạm phát. Do đó lãi suất ngân hàng = m1+m2;

* m3: công của nhà tư bản đã có ý tưởng và có công xây dựng nên bộ máy (công ty chẳng hạn) sản xuất ra giá trị thặng dư này;

* m4: chi phí trả cho sự mạo hiểm do nhà tư bản đã đầu tư vốn;

* m5: trả cho nhà tư bản đã có công quản lý vận hành đào tạo công nhân;

* m6: trả cho các lao động đặc biệt của nhà tư bản mà các lao động này người công nhận không thể làm thay được;

* m7: trả lại tiền ăn học cho nhà tư bản;

* m8: trả cho gien di truyền đã tạo nên đức tính thông minh cần cù của nhà tư bản;

* m9: trả cho công của nhà tư bản đã tạo công ăn việc làm cho người lao động, tạo đà phát triển cho xã hội giảm tỷ lệ thất nghiệp đỡ tránh các tệ nạn do bần cùng hóa xã hội như: ăn xin, trộm cắp,thất học, buôn gian bán lậu...
 * m10: thuế. Tại sao phải đóng thuế? Các sắc thuế ngoài việc thu về các phần đóng góp của quốc gia trong hoạt động của doanh nghiệp còn có ý nghĩa điều tiết lại giá trị thặng dư nhà tư bản đã bóc lột nhân công (nếu có);

* m11: của người lao động.

III. KẾT LUẬN

Học thuyết về giá trị thặng dư là viên đá tảng của học thuyết kinh tế của Mác.

Quy luậy kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản là quy luật giá trị thặng dư.

Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư.

Tư bản là giá trị mang lại giá trị thăng dư, bằng cách bốc lột công nhân làm thuê.

Tư bản là quan hệ sản xuất xã hội: quan hệ bốc lột của người làm chủ đối với người làm thuê.

Tư bản được phân chia thành tư bản thành tư bản bất biến (c) và tư bản khả biến (v), trong đó v là bộ phận trực tiếp tạo ra giá trị thặng dư (m).

20.10.2013
Hồ Quốc Nam

Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2011

Bùi Văn Nam Sơn

(Nguồn: Chungta.com dẫn lại từ Thanh niên Tuần san)


Nhà nghiên cứu triết học, dịch giả.

BÙI VĂN NAM SƠN: KẺ LỮ HÀNH THEO CHÂN CÁC TRIẾT GIA

Khi cuốn sách triết học Hiện tượng học tinh thần của Hegel, với bản dịch Việt ngữ (và chú giải) của Bùi Văn Nam Sơn ra mắt tại Việt Nam, thì khắp các trang điểm sách đều trang trọng loan tin, gọi đó là “sự kiện lớn” trong đời sống khoa học xã hội của nước nhà. Riêng giáo sư triết học Nguyễn Hữu Liêm đã gọi đây là “Một biến cố văn học lớn của Việt Nam”.

Biến cố này còn được tạo thành một vệt với bộ ba quyển phê phán nổi tiếng của nhà khai minh vĩ đại người Đức I.Kant: “Phê phán lý tính thuần túy”, “Phê phán lý tính thực hành”, “Phê phán năng lực phán đoán” (4 cuốn nói trên được xuất bản từ 2004 - 2007), “Khoa học logích của Hegel” - đang in.

Nhà thơ quái kiệt Bùi Giáng thuộc vai chú của nhà nghiên cứu triết học, dịch giả Bùi Văn Nam Sơn. Sinh thời, Bùi Giáng rất kính nể người cháu này, một trí thức định cư ở Đức từ năm 1968. Bùi Văn Nam Sơn đã làm gì, là người như thế nào mà đạt được sự kính nể đó của lão thi Bùi Giáng?

Tạo ra triết học Hegel, Kant bằng tiếng Việt

Tầm quan trọng của bản dịch Việt ngữ những tác phẩm then chốt nhất của hai nhà triết học kinh điển thế giới Hegel và I.Kant là nó cung cấp những bộ mã chìa để mở ra cánh cửa tri thức của nhân loại. Và chỉ khi anh tiếp thu, hòa được vào dòng chảy tri thức đó, thì anh mới có thể tạo ra và rao truyền những giá trị của mình.

Để có các bản dịch chính xác, ông đã đối chiếu nhiều bản dịch tiếng Anh, Pháp, Trung, và có công chú giải tác phẩm một cách nghiêm túc, cẩn trọng, bác học. Công lao của ông là “tạo ra triết học Hegel, Kant bằng tiếng Việt” (GS triết học Nguyễn Hữu Liêm), vì Việt ngữ chưa có một cộng đồng ý nghĩa và ngôn từ cho người học triết. Ông, một học giả với khả năng ngôn ngữ, được đào tạo về triết học khoa bảng, đã trở thành người Việt đầu tiên làm được công việc này. Bởi những lý do đó, bản dịch Phê phán lý tính thuần túy (dày 1.300 trang) đã được Quỹ Dịch thuật Phan Châu Trinh và Đại học Quốc gia Hà Nội trao tặng giải thưởng Tinh hoa giáo dục quốc tế.

Xuất thân là người học triết (ông học triết học tại Đại học Văn khoa Sài Gòn từ 1964 - 1968, sang Đức du học từ năm 1968), sau đấy là người dạy triết (ông định cư và giảng dạy triết tại Đức) và khi đã dứt nợ mưu sinh, ông trở thành người đưa tri thức (triết học) thế giới vào Việt Nam một cách có hệ thống.

Công việc này ông đã tiến hành độ 10 năm nay. Lý giải về động cơ của mình, ông nói: “Đối với nước ta, công cuộc tu thư ngày càng bức thiết để nhanh chóng lấp khoảng trống về học thuật, bù lại những quãng thời gian và cơ hội đã bị bỏ lỡ, nhằm tiếp cận một cách toàn diện hơn, chính xác hơn các trào lưu tư tưởng và thành tựu khoa học trên thế giới. Việc dịch sách kinh điển là con đường ngắn nhất trong việc tiếp phát văn hóa”.

Nhìn xa, thấy rộng, tự trọng và dấn thân

Tìm gặp Bùi Văn Nam Sơn tại nhà, một căn biệt thự yên tĩnh ở cuối quận Bình Thạnh, TP.HCM. Ở tuổi 61, trông ông nhanh nhẹn, hồn hậu và ân cần trong lời nói, cử chỉ; sôi nổi và nhiệt huyết khi nói về học thuật. Lời lẽ ông sáng rõ, giản dị, mạch lạc, súc tích, cố gắng diễn đạt những vấn đề triết học một cách ít trừu tượng nhất - một thứ ngôn ngữ đã được chưng cất qua chiều sâu trí tuệ của ông. Ông có một khuôn mặt ấn tượng với trán cao, rộng, mắt sâu, tinh nhạy và chiếc mũi lớn, khuôn miệng rộng, hay cười. Ông không tạo ra bất cứ sự rụt rè và mặc cảm nào cho người đối thoại, dù sự chênh lệch về hiểu biết trong đề tài được đề cập giữa hai người là khủng khiếp. Ông luôn biết cách cho một câu trả lời có giá trị ở tầm khái quát lớn ngay cả với một câu hỏi tầm thường.

Trong suốt cuộc trò chuyện, ông luôn gợi cho tôi hình ảnh của một thanh gươm mà ở đó, vẻ bề ngoài ôn hòa nồng hậu của ông là cái vỏ kiếm hiền dịu đã bao bọc, che chở cho một thanh gươm sáng quắc và lấp lánh là trí tuệ sắc bén của ông.

Ông nói nhiều về nỗi trăn trở, tự vấn của mình về sự suy nhược của nền khoa học xã hội - nhân văn nước nhà. Ông sốt ruột, mất ăn mất ngủ (theo cả nghĩa đen, mỗi ngày ông đều chong đèn làm việc đến khuya, làm việc liên tục, suốt ngày, suốt tháng, suốt năm, “như có cọp rượt sau lưng”) khi nhìn vào thư viện quốc gia, thấy vốn liếng sách vở của ta không bằng một thư viện trường đại học của người. Trong cơn bùng nổ của lý thuyết trên thế giới, ông hoảng hốt thấy sự thờ ơ và lãnh đạm của chúng ta.

“Phải biết giật mình, mất ăn mất ngủ khi so với các nước gần gũi như Hàn Quốc. Những năm 70 của thế kỷ trước, triết học họ kém hơn ta, họ tiếp xúc với triết học phương Tây muộn hơn ta. Giờ sau 40 năm nhìn vào thư viện của họ, toàn tập những tác phẩm lớn của những tác giả lớn về KHXH đã dịch ra tiếng Hàn. Hàn Quốc phát triển kinh khủng về học thuật, văn hóa, kinh tế. Trong 40 năm hòa bình, ta loay hoay làm đủ thứ chuyện thì họ làm việc đó. Ta tụt hậu kinh khủng, kể cả trong văn hóa tư tưởng - cái không tốn kém nhiều - lại tự hào vỗ ngực ta là “văn hiến chi bang” mà sách vở trống lổng. Không biết bao giờ mới tỉnh thức về việc này!? Người trí thức phải giật mình, tự vấn lương tâm: Ai là người chịu trách nhiệm đây? Làm nhanh đi trước khi quá muộn”.

Ông nói những lời tha thiết như vậy, và làm những việc thiết thực, khẩn trương. Ông tự quàng cho mình cái trách nhiệm của một người trí thức, theo quan niệm của ông: nhìn xa, thấy rộng, tự trọng và dấn thân. Ông cũng mong mỏi phải làm sao tạo điều kiện cho tầng lớp trí thức có căn bản học thức và phẩm hạnh đường hoàng.

Những đoạn trích dẫn lời ông ở trên và đoạn phỏng vấn thực hiện dưới đây, chỉ là 1/10 những gì ông đã nói với tất cả lòng nhiệt tâm và ưu phiền (Nguyễn Trãi: “Cổ kim thức tự đa ưu hoạn” – xưa nay kẻ biết chữ thường lắm lo phiền) mà ông đã bộc lộ trong cuộc phỏng vấn dài 3 tiếng trong một buổi chiều Sài Gòn liên tục chuyển mưa.

Đừng tự kỷ ta không có truyền thống triết học

Vì sao trong khi nói và viết, ông rất thường trích dẫn cụ Phan Châu Trinh, ngay như câu vừa rồi ông dẫn của cụ “Yêu nước thì tốt, nhưng biết đạo yêu nước còn tốt hơn”?

Tôi thường trích dẫn cụ vì Phan Châu Trinh lớn lắm, là nhân vật bản lề giữa xã hội cũ và mới, tượng trưng cho sự tỉnh thức của một dân tộc biết giật mình trước sự lạc hậu và thấy rõ sự quan trọng hàng đầu của văn hóa. Vì cụ biết có nó là có tất cả, gỡ được nó là gỡ được tất cả, mặc dù những chỗ khác có bức thiết hơn (trong khi thiên hạ thói thường “nóng đâu xoa đó”). Luận về người không luận về thành bại, mà luận về tầm nhìn, là cách đặt vấn đề của họ. Đặt vấn đề quan trọng hơn giải pháp, để không vay mượn tư tưởng, nô lệ tư tưởng của người khác. Độc lập văn hóa còn quan trọng hơn độc lập chính trị. Độc lập văn hóa là thấy được tầm quan trọng của văn hóa, giữ gìn, bồi đắp được nó, chứ không cho là văn hóa mình số 1!

Việt Nam là một nước có hay không có truyền thống suy tưởng triết học?

Bản thân người Việt có truyền thống suy tưởng hay không là vấn đề lớn nhưng có hai ý. Một, tố chất bẩm sinh: Người Việt có thể tiếp thu, nắm vững khoa học hiện đại, bằng chứng là ngôn ngữ tiếng Việt phát triển, không nghèo nàn. Bao lâu có một ngôn ngữ dân tộc phát triển và cập nhật thì dân tộc đó đủ năng lực tiếp thu và tư duy trước mọi vấn đề khoa học, không nên bi quan chỗ này. Tôi không tin người Nhật thì có óc triết học hơn người Việt.

Hai, thói quen: Lâu nay mình vẫn tiếp thu được những tư tưởng uyên thâm của Nho, Khổng (nhưng nay lạc hậu, xơ cứng. Mình vừa lòng với việc tiếp thu bề ngoài, không hiểu nguyên lý, phổ biến theo kiểu bí truyền, thầy dạy cho trò). Còn về việc không có những nhà đại khoa học, thì mình cũng chỉ là một trong hàng trăm nước như vậy, số nước có nhà đại khoa học chỉ đếm trên đầu ngón tay, không nên mặc cảm về chuyện này.

Không phải ta không có truyền thống. Truyền thống là do mình tạo ra. Do thói quen của một đất nước có nền giáo dục - khoa học lạc hậu, coi thường khoa học nhân văn không thiết thực, không làm ra của cải (mà không hiểu nó là nền tảng để làm ra của cải), chứ đừng tự kỷ ta không có truyền thống.

Từ việc xem nhẹ, coi thường khoa học xã hội lại ngộ nhận về tố chất, truyền thống của mình là cái nhìn vô cùng thiển cận.

Ông nhắc đi nhắc lại đừng công cụ hóa triết học một cách vội vã và dại dột. Vậy thì nhiệm vụ của triết học là gì?

Triết học, nhiệm vụ của nó là làm việc cho sự tự do của con người. Tự do nghĩa là mình làm chủ được - làm cho cái gì từng xa lạ trở nên quen thuộc với mình. Tự do là chính mình trong cái khác với mình. Muốn biến thế giới này thành một thế giới nhân đạo, quê hương để con người cư ngụ được, anh phải đủ năng lực tư duy để nắm bắt được nó. Mà anh suy nghĩ về thế giới là suy nghĩ bằng những phạm trù. Phạm trù anh vươn lên tới đâu, tự do của anh vươn lên tới đó. Nhưng, phải biết rằng không có tự do học thuật thì không có tự do tư duy.

Sự suy nhược (theo ông nhận định) của khoa học xã hội và nhân văn hiện nay tại Việt Nam nói lên điều gì và dẫn đến hậu quả gì?

Nói đến “khoa học” là nói đến tính khách quan, tính chính xác, tính chất khảo cứu, tính độc lập của tư tưởng, tính sáng tạo và mới mẻ trong quan niệm. Các tính chất ấy hiện ta đều thiếu cả. Đó là do sự “bao cấp về tư tưởng” trong nhiều năm, dẫn đến sự xem nhẹ vai trò của KHXH & NV, thậm chí ngộ nhận về chức năng của nó khi biến nó thành công cụ nhất thời và thiển cận. Và khi “công cụ” này tỏ ra không mấy hiệu quả, càng dễ xem nó là vô ích và nguy hiểm. Trong khi đó, kinh nghiệm lịch sử ở các nước cho thấy: nền KHXH & NV phát triển thường mở đường cho việc thay đổi cách nhìn, cách nghĩ của toàn xã hội, từ đó ảnh hưởng sâu sắc đến việc lựa chọn con đường phát triển của đất nước. Nó không chỉ là môi trường tạo ra những nhà văn hóa, nhà tư tưởng mà còn dọn miếng đất phì nhiêu, thuận lợi cho việc phát triển các ngành khoa học, công nghệ một cách lành mạnh, và nói chung, cho một nền văn hóa và kinh tế bền vững, nhân đạo.

Tham vọng triết học của Bùi Văn Nam Sơn

Với tốc độ vận động như hiện nay, phải mất bao nhiêu năm để VN có một kho tàng kinh điển thế giới hoàn chỉnh? Và phải ưu tiên “nhập khẩu” những gì trong tình hình hiện nay?

“Hoàn chỉnh” thì khó nói, nhưng theo tôi, để có chút “vốn liếng” căn bản, có lẽ cần ít nhất vài mươi năm, nếu làm việc cật lực và bền bỉ. Ngoài việc phải nhanh chóng tiếp thu những thông tin mới mẻ về nhiều lĩnh vực thiết thân cho nhu cầu trước mắt, cần ưu tiên cho việc học tập và nghiên cứu cơ bản để có sức mà đi xa.

Công việc hiện nay của ông là góp phần đưa tri thức thế giới vào Việt Nam một cách có hệ thống. Ông nhìn thấy viễn cảnh nào cho công việc nhọc nhằn và riêng lẻ, cô đơn này?

Công việc đang đỡ “nhọc nhằn và cô đơn” vì ngày càng có nhiều bạn đồng hành. “Viễn cảnh” sẽ tốt đẹp khi nhiều người cùng thấy sốt ruột và tự giác làm việc.

Giấc mơ của Plato (nhà triết học cổ đại người Hy Lạp): Vua phải là triết gia và triết gia... phải làm vua. Cơ sở nào để Plato có giấc mơ này?

Vì Plato cho rằng triết gia là người nắm được chân lý! Và cũng vì ông đồng nhất hóa Chân-Thiện-Mỹ, nên triết gia không... làm vua, thì ai xứng đáng để làm? Trong lịch sử, không phải không có trường hợp vua được xem vừa là nguyên thủ quốc gia, vừa là giáo chủ, vừa là... con người đẹp nhất! Chỉ đến thời hiện đại, khi nhận ra rằng Chân (khoa học), Thiện (đạo đức) và Mỹ (sở thích, nghệ thuật) tuy gắn bó chặt chẽ và thúc đẩy lẫn nhau nhưng không phải là một; mỗi cái có phạm vi và quy luật riêng, không quy giản vào nhau được thì giấc mơ kia mới tỉnh mộng. Công đầu trong nhận thức ấy chính là nhà khai minh vĩ đại: I. Kant.

Vậy thì vua có cần biết triết học không?

Triết học sẽ giúp có “chính trị sáng suốt”, “chính trị lành mạnh”.

Thế còn giấc mơ của ông là gì?

Là ai lo việc nấy! Triết gia không phải... làm vua, còn vua thì không can thiệp vào các lĩnh vực chân, thiện, mỹ, ngoài thẩm quyền của mình.

Ông có tham vọng triết học nào không?

Vâng, có. Xin xem lại câu trả lời trên.

Nét chính trong tính cách của ông?

Cụ Khổng khuyên người học nên có hai tính cách: “học nhi bất yếm, hối nhân bất quyện” (học không biết chán, dạy người chẳng mỏi). Tôi xin phấn đấu theo lời cụ ở nửa câu trước. Tôi mong mỏi là suốt đời được làm một anh học trò già.

Triết học làm ta mất ngủ. Triết gia là những con người thao thức. Vậy nhà triết học thì thế nào?

Còn có thể làm gì ngoài việc tự nguyện thành kẻ lữ hành theo chân các triết gia? 

04.11.2011
Hồ Quốc Nam
(Khai sinh cho một chủ đề mới trên blog có tên "TRIẾT HỌC")